Showing posts with label Voyage. Show all posts
Showing posts with label Voyage. Show all posts

Friday, 25 August 2017

Thế giới của Lãm



Tôi nghĩ là mình chưa bao giờ gặp trực tiếp Lãm. Tôi chỉ mới thấy tranh Lãm vẽ. 
Mỗi lần về lại đồi Dương Xuân, tôi lại ghé đến nơi chốn này, như một lời tự nhắc mình về cách quan sát những điều quanh mình.
Lãm là một cậu bé, hoặc có thể cậu cũng không còn bé nữa. 
Lãm không kiểm soát được không gian. Khi giao cho cậu một tấm toan nhỏ, cậu không thể vẽ được vì thứ đầu tiên Lãm vẽ luôn là vật thể to nhất và nó choán hết không gian. Những con trâu trong tranh của Lãm có chiếc đầu to hết 4/5 diện tích toan. Những chiếc xe đều có phần bánh khổng lồ. Nhưng chính vì thế, tranh của Lãm có một góc nhìn rất lạ lùng. Mọi logic đều không giải thích được. Khi ngắm nhìn, bỏ qua hết mọi câu hỏi vì sao, tôi chỉ còn cảm thấy cái đẹp.

Lãm có một cách nhìn rất khác về thứ tự và không gian. Nếu giao cho Lãm tưới một hàng cây, Lãm sẽ không tưới lần lượt từ trái sang phải mà theo một trật tự không có thứ tự tuyến tính. Nó có thể là 1,4,6,7,3,2,5. Và ngày hôm sau, nếu được giao cho việc tưới cây, Lãm cũng sẽ tưới y hệt theo trật tự 1,4,6,7,3,2,5. 

Nó là trật tự trong thế giới của Lãm. Nó nhắc cho tôi rằng có nhiều hơn một cách để nhìn ngắm mọi sự, nhắc cho tôi về sự chấp nhận những cách nhìn thế giới của sinh thể khác, dù cho nó có kỳ dị, khác biệt so với thói quen của mình. Và ở trong mỗi khung trời nhỏ nhắn đó, hẳn bông hoa vẫn đẹp, bất chấp mọi lý lẽ.


Read More

Tuesday, 25 October 2016

lại về Uma và sự bất tử

Có những thứ không nên ngoảnh lại, làm lại, đi lại.
Ví dụ như nếu đêm giữa tháng hai đó, tôi không đến Cung Tơ Chiều nghe lại những bản nhạc cũ.
Ví dụ như nếu hai ngày trước, tôi không quay lại bảo tàng ở Phnom Penh để ngắm lại bức tượng Shiva và Uma.

Hai năm trước, trong một chuyến đi cùng vài người bạn mới, tình cờ tôi gặp Shiva và Uma. Khi trở về, lòng tôi đầy hoang mang về thứ tình yêu không biết đến mệt mỏi của các vị thần. Và tôi viết xuống những dòng ở đây.

Hai năm sau, tôi có một buổi chiều hoàn toàn một mình để ngắm kỹ bức tượng. Uma vẫn nhỏ bé như vậy, ngồi một bên đùi của Shiva. Bây giờ tôi mới thấy kích thước đó quá chênh lệch. Nhỏ như một cô bé gái. Và khác với những bức tượng tạc nữ thần khác đầy tính phồn thực, phần bầu ngực trần của Uma cũng nhỏ nhắn nốt. Chúng chỉ hơi vồng lên, như ngực của một thiếu nữ vừa dậy thì. Chân cũng nhỏ, ngoan ngoãn xếp chéo ngay ngắn một bên. E ấp mà tình tứ.

Nhưng phần đầu và cánh tay trái của phần tượng Uma không còn nữa. Chỉ còn lại một cánh tay phải, với bàn tay không thể bé hơn được nữa, quàng ra sau lưng Shiva. Một tấm lưng to, vững chãi và một bàn tay nhỏ xíu. Chẳng mấy ai ngắm phía sau một bức tượng để biết tất cả những gì còn lại của Uma chỉ là chút tình luyến thương.

Sau mấy trăm mấy ngàn niên đại trôi qua như vậy, cuối cùng, chỉ mình Shiva còn biết được diện mạo của Uma ra sao. Nàng từng cười, từng nói, từng yêu tha thiết thế nào. Uma ấy đã trở thành một bí mật của riêng Shiva... Hoàn toàn tư mật. Không còn ai biết được nữa.

Và tôi, trong buổi chiều đó, đối diện với sự bí mật này, cứ quanh quẩn đi lòng vòng quanh bức tượng, chỉ muốn hỏi Shiva rằng liệu ngài còn yêu cô ấy không, sau mấy ngàn năm, mấy triệu năm? Thời gian có ý nghĩa gì với những kẻ bất tử không? Cô ấy đã mất hết cả hình hài, diện mạo trong cuộc yêu này. Ngài còn yêu cô ấy không? 

Rồi tôi nhớ Agnes với đoạn tư tưởng buồn thương trong Sự bất tử. Thứ kinh khủng mà Agnes nhìn nhận ra được, hóa ra không phải tình yêu thì vô cùng mà thân phận thì hữu hạn. Hóa ra chính tình yêu mới chính là thứ hữu hạn, ngắn ngủi, chớp nhoáng, mong manh, có tính khoảnh khắc. Còn thân phận, cứ miên viễn tái sinh, trường tồn, lắt lay như vậy mãi.

Một cánh tay của Shiva ôm choàng qua người phụ nữ bé nhỏ. Một bàn tay còn lại cầm một thứ gì rũ xuống, như một đóa hoa héo. Đối diện với một Shiva và thứ tình yêu của các vị thần bất tử, tôi cảm thấy suy sụp. Và tôi khóc, không cách gì cầm lòng được, ngay ở giữa bảo tàng...





Read More

Thursday, 20 October 2016

Kep


Đừng hỏi tôi gì về Kep, vì tôi chẳng biết gì ngoài đó đâu. 

Tôi mua lấy một không gian trên đỉnh đồi. Mỗi sáng thức dậy đẩy cửa ra sẽ thấy biển ở đằng xa. Mùa này mưa lất phất, mây phất phơ, lúc nắng lúc không. Biển trở đục trở trong khó lường. Nhìn từ xa trên đồi, nheo nheo mắt chỉ thấy những vệt nâu nâu của dòng nước.

Cứ ngày ngày buổi sáng tôi cầm chiếc ô nhỏ đi xuống đồi. Đêm nào cũng mưa. Đôi lúc khi tạnh, sẽ nghe tiếng dế. Sáng hôm sau cỏ ướt lướt thướt. Trên bậc thềm cầu thang, những cái chồi bé xíu lách qua phiến gạch, lún phún vươn lên, mong manh mà bình tĩnh lớn dần. 

Không còn cảm giác được thời gian. Không nhớ hôm nay thứ mấy trong tuần hay hôm nay là ngày bao nhiêu. Dễ chịu và tự do. Người chủ vào tận bếp chỉ cách cho đầu bếp nấu những món chay tùy theo ngày cho tôi. Khi ngồi ăn thường cảm thấy thích thú vì cảm nhận được họ đã không hề tùy tiện chút nào với món ăn.

Ngồi ở gần hồ nước, cảm thấy cơn gió từ biển thổi vào mang chút hơi mát thấm vào gáy, vào cánh tay. Dù không bước chân ra biển nhưng cuối ngày bao giờ da cũng có vị hơi mặn. Cuối ngày, tôi luôn muốn thè lưỡi liếm nhẹ vị muối trên da trước khi tắm. Rồi sau đó chui vào chăn nằm đọc sách tiếp. Ngoài kia mưa lại đang rơi nhẹ nhẹ lên cỏ.

Chẳng còn nhớ gì về thời gian nữa cả. Chẳng còn nhớ gì nữa cả. Muốn tan biến hoàn toàn vào không khí.
Read More

Tuesday, 18 October 2016

In this corner of the world



Kep là một thị trấn nằm ở xó xỉnh hốc hẻm tận cùng nào đó ở thế giới. 
Resort vắng tanh. Ngoài chúng tôi, chẳng còn ai nữa. 
Buổi tối, hai chúng tôi ngồi ăn tối cùng nhau, cùng hỏi về người chủ resort. Một người Hungary cao lớn, biết nấu mỳ Ý đúng độ al dente, trước làm cho UN, rồi khi dự án kết thúc thì ở lại Cambodia. Ông mới từ Phnom Penh về Kep, tiếp quản khu resort được có một tháng và chúng tôi là những người khách đầu tiên. 

Rồi chúng tôi lại nói về thời tuổi trẻ của anh, về những năm anh lang thang châu Âu, về những loại drugs của Amsterdam và bao lần say sưa năm cũ. Cả về những thành phố lưu trú nơi này chốn kia có đôi lúc dừng chân. Khi Nam Mỹ, lúc Bắc Ireland. Tôi nói tôi có trí nhớ của loài voi. Và chúng ta thì vẫn chưa đi Nhật cùng nhau như đã hứa.

Ở một góc nhỏ ở tận cùng thế giới. Tối nay. Tối nay.
Read More

Thursday, 6 October 2016

Beyond the realm of posibility





Read More

Saturday, 1 October 2016

Vanity





Gió thổi đồi thu qua đồi thông
Mưa hạ ly hương nước ngược dòng

Thấm thoắt mà đã lại một mùa thu nữa. Clermond Ferrand cuối năm 2008 với Captain Fracasse của Gautier. Phòng họp có cửa  sổ nhìn ra một dòng suối. Xung quanh là rừng. Những giáo sư càu nhàu cãi nhau xem loại chim chóc trong truyện của Gautier là chim sẻ hay vàng anh. 

Ở bán cầu bên kia bây giờ đang là mùa xuân. Bây giờ chúng ta đi xa đến như vậy. Chúng ta đã từng trẻ đến như vậy, như những con vịt con xấu xí và vụng về mà hăm hở lao xuống dòng suối. Tôi muốn uống lại lần nữa ngụm nước thanh xuân đó.
Read More

Friday, 30 September 2016

Strasbourg tháng 1




Strasbourg tháng 1 làm tôi nhớ người tình phương Bắc. Trong thư từ, Diễm Châu gọi đó là Lộ Trấn. Còn nơi tôi ở, tôi đề thư Lung Gia. 
Ba mươi phút đi xe lửa. Nhà ga cổ được bọc lại bởi một chiếc lồng kính, có cảm giác như một vòng tay nâng niu ôm ấp. 

Cho nên Strasbourg ấm áp cả vào những ngày đông lạnh nhất.
Cho nên suốt cả bao nhiêu xuân hạ lần lượt qua, tôi vẫn còn nhớ đôi môi của người tình có vị hạnh nhân còn chiếc khăn quàng thì phủ hương loại nước hoa phổ biến của Armani. Thi thoảng tôi hay giễu cợt rằng tất cả đều là những thứ mùi nông cạn không thấm được đến thịt da.
Cho nên vào cuối kỳ nghỉ, khi rời Lung Gia rồi, một mình kéo hành lý đến Strasbourg, đi vào ngủ lại ở một khách sạn thật lạ lùng, ngồi đơn độc trong bóng tối, tôi hỏi người tình phương Bắc: "Anh có thể thương em nhiều hơn một chút nữa được không?" 
Người tình trả lời: "Nhưng anh vẫn đang thương em rất nhiều đó thôi."

Anh không hiểu lời tôi nói.  Cái ngày tôi rời đi, tôi bỏ qua Strasbourg, ngồi trên một chuyến tàu suốt, đi thẳng từ Lung Gia về sân bay CDG. Đến bây giờ, vĩnh viễn không bao giờ gặp lại, anh vẫn không hiểu lời tôi nói.
Read More

Thursday, 15 September 2016

Freedom NOT to love



"in the defense of the freedom NOT to love!”



Read More

Monday, 12 September 2016

Trong tôi bóng tối rụng đầy

Khi ngồi chờ chuyến bay ở Seoul, tôi nhận được tin cậu bé đó đã tự tử. 
26 tuổi, tóc vàng, mọi thứ còn đẹp. Nhảy xuống từ một chiếc cầu. Ở một vùng đất xa lạ. Còn lại chỉ là lời nói trước khi đi, cậu bé đó vẫn còn buồn và thì thào khẽ rằng giờ có còn lý do gì để quay lại đất nước lục bảo đó nữa đâu...

*
Thoreau nói rằng khi đi đến một vùng đất lạ, người ta cô đơn hơn khi ở trong căn buồng của mình. Nhiều khi người ta đi những dặm đường rất xa, rất xa, qua nhiều đại dương, núi non, hố thẳm để nhận ra rằng hóa ra mình cô đơn nhiều hơn là mình tưởng. Và rằng trong mỗi con người đều có một vực thẳm, nếu lỡ nhìn xuống rồi thì không gì có thể kéo lên được. Cũng đừng kêu than khi rơi xuống. Có ai thương được vực thẳm của người khác không? Mỗi người có tự thương được vực thẳm của mình không? Ai cũng nhiều tâm sự trong bóng tối quá, chúng tôi không thể nói ra được. Cứ cuộn tròn lại, như con thú co mình trong hang. Biết đâu từ nay chỉ còn có tịch liêu lặng lẽ...

*
Vậy là cuối cùng ở cái vùng đất rất xa ấy, cậu bé đó đã chọn buông tay, gieo mình xuống dòng nước. Cái chết vì cô đơn của một con người làm lòng tôi khó ở, trằn trọc. Ngực tôi thấy đau một cảm giác hoàn toàn thể xác.

*
Nỗi buồn là một thứ có thể lây lan trong không khí. Đêm đó, khi ngồi trên sofa, trong bóng tối, tôi cảm giác được rõ ràng về nỗi buồn ngoại lai từ từ rót đầy vào lòng, khuấy chung cùng cơn u uẩn của tôi. Như một dòng nước chậm rãi nhấn chìm tôi. Tôi cũng không còn đủ sức để vươn tay níu lấy bờ bãi. Để mà chi. 


*
Ba người cùng trễ chuyến bay ngồi ở ba góc của phòng ăn. Một người Hàn, một người Nhật và một người Việt. Vô tình cả ba đều chọn cùng một món ăn. Rồi lặng lẽ ăn trong cái đêm đó. Không ai nói với ai lời nào. Ăn xong đứng dậy, lần lượt từng người âm thầm lẩn qua cánh cửa và biến mất. Tôi cảm thấy quá cô đơn, đến muốn nghẹt thở. 


*
Hoàng hôn ở sân bay Incheon là một cảnh gần giống như những bộ phim điện ảnh. Trong ánh tà dương đó, tôi ngả đầu về phía sau để cho có cảm giác tóc chạm vai và để nước mắt khoan rơi xuống.


Read More

Thursday, 8 September 2016

Portland


Tôi đi mòn mỏi trong nắng chiều. Không có nơi nào để tìm được một hộp màu nước, một quyển sketchbook và cây cọ vẽ. Khắp nơi chỉ tuyền là chì màu và sáp. Những thứ quá cứng, đầu sắc nhọn. Chạm vào giấy sẽ làm đau những vân mờ.

Khu Hawthorne hiện ra như một dãy phố ở trong sách nào đó. Không có thực. Dưới nắng chiều, mọi thứ đều mờ mờ. Mắt tôi đã không còn nhìn rõ được nữa. Mất đi thứ cảm giác về mọi điều xung quanh.

Tôi muốn có một hộp màu nước. Rất muốn. Để vẽ lại thứ đã nằm trong đầu. Một ô cửa sổ ở Sequim. Bên ngoài là cỏ ngả vàng. Một nhánh cây trổ lá hoang vu. Trơ trọi của trời thu. Mỗi sáng tỉnh dậy đều ngơ ngác không thể nhớ nổi mình đang ở đâu, vì sao...Rồi khi nhớ ra đều lặng lẽ chảy nước mắt. 

Tôi đi tay không về lại căn phòng trọ. Nằm lên giường, nhìn thẳng phía trước. Ai đó treo bức The room của Van Gogh ngay đối diện hướng nằm.
Vì không thể vẽ được ô cửa sổ Sequim, tôi có cảm giác như mình bị bức tranh của Van Gogh nuốt chửng. Rồi cái ô cửa sổ trong đó làm tôi nhớ câu này của Wallace: "The person in whom its invisible agony reaches a certain unendurable level will kill herself the same way a trapped person will eventually jump from the window of a burning high-rise." Rồi tôi òa khóc. Có còn gì hơn nữa đâu...
Read More

Monday, 8 August 2016

Lên mù sương, xuống mù sương*



T. đánh thức tôi dậy, nói đến vùng Bretagne rồi. Tôi ngái ngủ nhìn ra cửa kính. Xung quanh ngập trong sương mù. Hai cánh đồng sương mù trải dài hai bên. Chỉ một vệt đường hun hút trải miết về trước. Nắng ấm từ Paris đã hết tự lúc nào. Có lẽ đã mất đi trong giấc ngủ của tôi. 

Đường vào St Michel cũng đi qua những đoạn cánh đồng hoang vu. Bùn xám xen lẫn cỏ xanh và sương nhạt. Những con cừu chơ vơ đứng gục đầu trên đồng. Có một vài con lang thang, cắm cúi bước đi không rõ về đâu. Tôi thấy nghẹt thở.

Tôi đi ra giữa vùng bùn xám, cảm thấy bàn chân dù bấm chặt xuống đất nhưng sương mù vẫn từ từ dâng lên trong lòng. Chân trời không rõ ở nơi nào. Mọi liên hệ với bờ bãi mất hút. Mờ mịt, không rõ trước sau, hoang mang, không rõ về đâu. Nhiều năm tháng giữa hai ta đã trôi đi như vậy. Một ngàn ba trăm mười hai ngày trong sương mù và những giao tiếp ngả màu như bùn xám vô tận...







* Thơ Bùi Giáng, bài Áo xanh

Lên mù sương, xuống mù sương
Bước xa bờ cỏ xa đường thương yêu
Tuổi thơ em có buồn nhiều
Thì xin cứ để bóng chiều đi qua



Read More

Tuesday, 5 July 2016

Trăng câu liêm



1. 
Năm mười bốn tuổi, sau khi thi đỗ vào một trường chuyên, tôi được mẹ gửi ra Huế. Sau rất nhiều ngày rong ruổi lang thang ở những nội điện, lăng tẩm và giang nắng trên những con đường ngoại thành, tôi được đưa đến thăm một ngôi mộ. Huế là một thành phố đầy những mộ phần của những sĩ phu. Người sống, kẻ chết chen lẫn nhau. Nỗi bi oán của tâm sự ngày cũ kéo chùng xuống nhịp thở thời đương đại.

Năm 2000, trước cửa mộ chỉ có vài đứa bé đang chơi bắn bi và đánh bài. Cỏ mọc ngang người, dây hoa tigon vắt từ mái nhà lan xuống lòa xòa. Lúc đó là lần đầu tiên tôi nghe nhắc về tên của ông, người trùng tên tôi. Buổi trưa hôm đó, sau khi dạt cỏ ra để vào thắp nén hương, tôi đứng nhìn hai dòng chữ khắc hai bên mộ. Người đồng hành của tôi hơn tôi ba mươi tuổi, chỉ thở dài bảo : "Năm xưa... thế mà như bây giờ đây"

2. 
Nền giáo dục của người Pháp cộng với nền nho học ở vào buổi tân cựu giao thời đào tạo ra những tinh anh trí thức mà sau này có lẽ không cách gì có lại được nữa. Dù là ở quan trường chính trị hay trong trang viết vẫn có sự khẳng khái, chính trực, quan thiết về vận mệnh quốc gia. Khi đọc văn thơ, chính luận thì thấy sự sáng trong, thấu suốt, rành mạch, chặt chẽ. Mà cuộc đời thì có nỗi u ẩn, có niềm tâm sự lại cũng có sự thong dong. 

Mỗi khi nghĩ lại về những con người thời đại đó, lòng cảm thấy vừa tiếc nuối vừa được an ủi về phẩm chất dân tộc. Giống như nhìn sâu vào một bình địa sau trận bomb, biết trước đây đã từng là cánh đồng xanh và ở sâu dưới lòng đất vẫn còn những hạt mầm chưa đủ nhân duyên trở mình dậy. Nhưng hẳn là sẽ đến một ngày nào đó, như cây cỏ đã trở xanh dậy trên nền xác ngôi làng ở Chernobyl.

3.
Sau những tháng an trí ở Hoa Đường, ông bị giết trong một đêm trăng câu liêm. Năm đó ông chỉ mới 52 tuổi.




Read More

Monday, 27 June 2016

còn một sớm thương nhau


1. Bạn đồng hành là một người có rất nhiều nỗi sợ. Chị sợ ở một mình trong căn nhà vắng, sợ ngồi trong bóng tối, sợ không khí tĩnh lặng trong khu rừng gần nhà, sợ con đường làng vắng vẻ.

Tôi nói với chị rằng thật ra tất cả những nỗi sợ đó chỉ là phân mảnh của việc sợ chết.

2. Buổi sáng sớm, cô Tịnh Hằng dắt chúng tôi băng qua nhiều cánh đồng cỏ, hoa cúc trắng, những trảng lúa mì đang nhú đòng. Sương còn đọng trên lá cỏ, xung quanh bừng sáng như thể châu ngọc lấp lánh xung quanh. Vạt áo nâu ướt đầm sương sớm. Những dải hoa cúc trắng cao ngang người. Nhưng tất cả sự lộng lẫy của sớm mai đó vẫn không trấn áp nổi nỗi sợ trong lòng người bạn đồng hành. Chúng tôi ngồi chơ vơ trên ngọn đồi, nhìn mặt trời lên.





3. Khi đi trên con đường dẫn lên ngôi làng ở Loubès Bernac, tôi nói với chị rằng chúng ta thật đáng buồn. Chúng ta vốn sống yên ấm trong thiên nhiên. Thế mà giờ đây chúng ta như giống loài đi lạc. Chúng ta náu mình trong những đô thị bê tông cốt thép lâu đến nỗi việc bước đi trong một khu rừng gần nhà cũng làm chúng ta sợ phát khiếp. Chúng ta trở thành một loại động vật đô thị, chỉ còn ưa những cây bụi, cây thưa lá, cây ăn quả, hoa nhỏ và bonsai. Domesticated plants. Chúng ta thuần hóa cây cối. Bê tông thuần hóa chúng ta.

4. Có một vài phút, lúc dừng lại chờ đèn giao thông, tôi ngẩng đầu nhìn những tán cây trên đường Bà Huyện Thanh Quan. Một giống loài có thể vươn cao, vững chãi, chậm rãi tạo ra cảm giác yên bình đến vậy. Một người bạn của tôi nói rằng mối quan tâm lớn nhất của Bảo Bình (và có thể cũng là nhiều người khác) là về con người. Tôi cố gắng để mình không phải nhìn và nghĩ con người quá nhiều, nhất là về anh. Thông thường, tôi sẽ nhìn một cái cây, thở một hơi thật sâu, lại nhìn lại cái cây lần nữa. Không một cái cây nào, bất kể trong đô thị mệt mỏi hay giữa rừng hoang u tịch từng làm tôi đau lòng. Không một cây nào.

5. Tôi gửi một bức ảnh cánh đồng hoa poppies nở đỏ vạt đất cho anh. Tôi nói rằng khi ở trong thiên nhiên như vậy thì hiểu được vì sao mình được chữa lành. Tôi nghĩ anh không hiểu hoặc không có thời gian để thấu hiểu một bông hoa. Đời sống của đô thị nuốt chửng những hội thoại và nuốt chửng chúng ta rồi.

6. George Orwell viết trong 1984 như vầy: "Perhaps one did not want to be loved so much as to be understood."

Perhaps.
Read More

Thursday, 23 June 2016

thuyền nhân


Rất khó để đoán được tuổi của cô ấy. Gương mặt đó có những nét vừa già vừa trẻ. Già như một bà già đã sáu mươi và trẻ như đứa trẻ mới lên tám. 
Phong thái cô ấy nhanh nhẹn, vóc người thanh mảnh, nụ cười trong trẻo như còn sót lại từ tuổi thơ.
Ngày thứ hai của khóa Tiếp hiện, thiền sinh vẫn lục tục đến từ khắp nơi nên buổi trưa chúng tôi được ăn trưa tự do. 
Cô Hòa Hợp mời cô ấy cùng ăn trưa với chúng tôi. Bọn tôi ngồi ở chòi gỗ nhỏ, trông ra hồ sen.
Ăn xong, chúng tôi rì rầm trò chuyện. Tiếng Việt của cô ngập ngừng, như đứa trẻ cố tìm cách lôi ra những từ vựng cần thiết trong đầu.
Nhiều năm tháng trước, trướ khi đặt chân đến Thụy Sỹ, cô ấy là một thuyền nhân. Khi nghe thấy cụm từ này, đầu óc tôi nhớ đến hai vị tu sĩ tự sát trên con tàu ở Nha Trang, nhớ đến cướp biển và đứa trẻ bị vứt xuống biển khơi, nhớ đến bài thơ của Thầy,...

Lúc đó cô ấy chỉ mới mười hai hay mười bốn chi đó. Tàu lênh đênh trên biển nhiều ngày trời. Cướp hoành hành ngang dọc. Con tàu bị cướp bóc đến ba lần. Lần thứ nhất, người ta mất toàn bộ đồ đạc. Lần thứ hai, mất hết máy móc để tàu chạy, đến cái la bàn cũng không còn. Sóng vùi dập không biết trôi về đâu. Nước cạn, lương thực cạn, xăng dầu cạn...

Toán cướp biển thứ ba ập đến. Những con người nhàu nát và ngơ ngác bị lùa sang một con tàu khác để bọn cướp có thể lục soát. Cả tàu trống trơn, vô hồn như cái xác dật dờ. Rồi bọn cướp không mót được bất kỳ thứ gì. Chúng lại lùa người về.

Trên tàu có một nồi cơm mới nấu. Một nồi cơm to. Bọn cướp đã nấu nồi cơm đó, sau khi tìm khắp nơi không thấy còn lại một mẩu vụn lương thực nào. Và chúng rẽ sóng, đi mất, để lại những con người vẫn còn bàng hoàng trước nồi cơm nghi ngút khói.

Tôi nghĩ trong vắt cơm năm đó hẳn trộn nước mắt của rất nhiều người.

Chừng vài ngày sau con tàu dạt vào một hòn đảo của Mã Lai. Rồi một con tàu của Thụy Sỹ chấp nhận mang họ về châu Âu. Trong số những thuyền nhân đó, có một cô bé giữ đươc mãi nụ cười của trẻ thơ, vì vắt cơm năm nào có một giọt từ bi của những bồ tát hiện ra dưới thân cướp biển.

Read More

Sunday, 19 June 2016

Père Lachaise

Ý tưởng chạy trốn đến một nơi nào đó để ngắm một thứ gì thật đẹp cứ nung nấu mãi trong đầu tôi, nhất là trong những chuỗi ngày mà mọi thứ đều ngập ngừng, dang dở. Ngày hôm trước, khi tôi đang mải ngắm một chiếc đèn chùm rất đẹp và nghĩ về Marie Antoinette thì lại nhận tin máy bay hủy chuyến của tôi vì phi công đình công. Cái đèn pha lê lộng lẫy gượng gạo nhìn tôi lúng túng gọi cả chục cuộc điện thoại dàn xếp vé mới. 

Vì thế sáng sớm hôm sau, tôi bỏ lại hết hai người đồng hành để chạy đến nghĩa trang, nơi tôi biết chắc chắn mình được yên tĩnh với một điều thật đẹp. Trước đây, khi đến một thành phố lạ, tôi cũng thường hay có thói quen đến thăm một nghĩa trang nào đó. Trong những thành phố bận rộn, náo nhiệt, nghĩa trang là nơi an bình nhất để mình được ở yên một mình. Phần lớn bạn đồng hành nghĩ ý tưởng này có vẻ không bình thường, vì vậy tôi được an ổn đi một mình, không phải bận lòng về bất kỳ người nào đi theo. Tôi chẳng quen biết ai ở nghĩa trang, cả người sống lẫn người chết, vì vậy tôi không bị cảm giác tiếc thương lấn át việc ngắm nhìn và đi dạo. 

Việc chiêm ngưỡng những gì còn lại sau khi cái chết diễn ra khiến cho tôi cảm thấy dễ chịu. Phần lớn những khổ ải của cuộc đời đã hết. Những nấm mộ đẹp, những bức tượng đồng đã ánh xanh, những tán cây rợp mát, những lối đi thoai thoải như thể rót vào người tôi sự tĩnh lặng và cả sự sống. Trong những nghĩa trang, tôi cảm thấy thân thiết với con người hơn. Sẽ không ai hỏi ai điều gì. Không còn dằn vặt nhau vì sao không có hồi âm, trao đổi. Sự im lặng được chấp nhận ở đây. Ở đây có hàng trăm cuộc đời, hàng trăm mối tình dang dở hoặc sung sướng, hàng trăm nỗi đau khổ lẫn hân hoan của cuộc đời. Có đứa anh nhi lìa bỏ cuộc đời từ sớm, có thiếu nữ, thanh niên lìa bỏ tuổi xuân, có người già nua đến nỗi mắt không còn thấy được lóng tay lóng chân mình nữa. Nhưng họ đều đang ngủ yên rồi. Có những nấm mộ từ hơn 200 năm trước. Có nấm mộ mới vừa lấp trong năm nay. Mọi chuyện đã yên ổn cả rồi. Không còn gì phải lo lắng nữa. Không còn tình yêu nào giày vò họ nữa. Không còn bệnh tật nào làm hao mòn họ nữa.





Cuối cùng, tôi hỏi xin nghĩa trang có thể rộng lòng cho tôi một chiếc lá. Chừng độ dăm bước chân, tôi gặp một nhành lá vàng đã lìa cành, hẳn là trong đêm qua. Tôi cầm lấy. Tôi cảm thấy an lòng hơn. Tôi có thể không chắc chắn mình sống tiếp ra sao nhưng tôi có được một lời cam kết, minh định rằng mai sau mình cũng sẽ có được sự an ổn cuối cùng đó. Quá đẹp, đến nao lòng.
Read More

Tuesday, 14 June 2016

Dòng sông có đủ thương tâm?

Chị Bình hẹn tôi lúc 8h ở Pont Neuf. Tôi nhắn tin báo sẽ đến trễ. Tôi gặp trục trặc với tủ gửi hành lý ở gare Monparnasse. Tôi phải khuân toàn bộ gần 20kg theo người từ gare đi đến Pont Neuf. Chuyến đi nhiều trục trặc và bão táp: visa trễ, phải mua lại vé máy bay mới, bị móc túi, mất tablet ở Gare du Nord, tàu đình công, máy bay đình công, lại hủy vé máy bay, chỗ ở tại Bordeaux bị trộm viếng thăm, khoắng hết một mớ đồ,... Sau ngần đó rắc rối, 20kg hành lý vác đi giữa Paris là một điều không còn làm tôi ngạc nhiên nữa. À Paris, Paris.

Tôi chỉ biết chị Bình qua facebook và blog của chị, vào năm ngoái, khi hai anh chị đạp xe từ Paris về Hà Nội. Thế rồi thi thoảng bọn tôi ồ à với nhau về những chuyến đi, nhất là Georgia.

Buổi chiều ở Pont Neuf là lần đầu tôi gặp chị. Tôi nhận ra chị ngay tức thì. Chị đứng quay mặt về phía dòng sông Seine. Nước dâng ngập tràn cả hai bờ. Tôi chào chị, chị mỉm cười bảo đứng nhìn dòng sông một chút đi em.

Và chúng tôi đứng đó, thở một chút. Trời tám giờ nhiều mây, vẫn còn sáng. Nước sông cuộn đầy mắt tôi. Một trăm năm rồi sông Seine mới trở mình dâng nước cao thế này. Một trăm năm rồi tôi mới đứng lại, chỉ nhìn dòng sông là một dòng sông. Sự nhẹ nhàng của bữa tối và những trò chuyện thân tình làm dịu lại tim tôi.

Rồi đến bây giờ, tôi vẫn còn nhớ lúc chị ngoảnh lại, nói: em đứng nhìn dòng sông một chút đi em...


Read More

Sunday, 22 May 2016

Bergerac



Bảy giờ mà trời vẫn còn sáng. Bốn người đi dạo quanh miền quê. Năm ngoái cánh đồng trồng đầy hướng dương, năm nay trải đầy lúa mì. Bông lúa còn xanh, bông lúa chưa trổ hết, bông lúa còn ngậm nụ, bông lúa còn bé xíu xiu.

Bốn người chia thành hai nhóm, rủ rì rù rì trò chuyện nho nhỏ. Bên này là mây trắng, bên kia là đồng nho. Cừu và ngựa tha thẩn nhẩn nhơ đây đó.

Cô Thuyết bằng tuổi tôi. Cả hai nằm xuống một dốc cỏ ngay bên triền hồ vì cô Thuyết nói khi nằm, ngắm mây thấy đẹp lắm. Lúc ngả mình xuống, tôi mới thấy cô nói thật đúng. Cảm giác khi đứng nhìn mây và khi nằm xuống nhìn rất khác. Có cảm giác như cả bầu trời đó tạm thời ngưng lại cho tôi ngắm.

Chúng tôi nói chuyện về mẹ, về ba, về những đứa con, về những hoạch định tương lai, về sự bất trắc của tình yêu.

Vì đang nằm trên triền đồi, nhìn mây trắng nên tôi kể cô Thuyết nghe về Sisyphus và tảng đá oái oăm. Tôi kể cả về lời Camus trong tiểu luận. Tay tôi vê một nhánh cỏ, thói quen khó bỏ mỗi khi tâm trạng tôi hơi mông lung. Cô Thuyết bảo ngoài những gì em kể, cô còn thấy Sisyphus thật nhẫn nại. Tôi toan cãi lại rằng anh ta bị buộc phải nhẫn nại, đó là hình phạt của anh ta. Nhưng tôi không nói. Một lúc sau, chúng tôi đứng dậy đi về cho kịp giờ sám hối.

Sau hơn một ngày, tôi thấy trên kệ sách có hai tấm thiệp ghi : "Do not die just because of an emotion" và "The tears I shed yesterday have become rain." Tôi nghĩ chúng dành cho tôi. Tàng thức của tôi lựa chọn, chứ không phải ý thức. Tôi không có quyền quyết định chi hết.

Tôi nghĩ thật ra về bản chất đời sống, chúng ta đúng là bị kết án phải kiên nhẫn như Sisyphus. Chúng ta đâu còn cách nào khác.

Nhất là khi ta biết được rằng cái chết chẳng giải quyết được cơn đau có tính thiên trường địa cửu này...
Read More

Tuesday, 17 May 2016

Europa


My life closed twice before its close
It yet remains to see
If Immortality unveil
A third event to me

So huge, so hopeless to conceive
As these that twice befell.
Parting is all we know of heaven,
And all we need of hell.

Gã móc túi ở Gare du Nord lấy được của tôi một ít yên bình và trả lại cho tôi sự nhận thức buồn bã về một mối quan hệ. 
Read More

Tuesday, 26 April 2016

Gaibandha



Rốt cuộc sau nhiều thời gian và cả không thời gian, đứa trẻ sẽ nhận ra được rằng không phải thứ gì nó thích thì những người nó yêu quý cũng thích.

Rốt cuộc sau nhiều thời gian và cả không thời gian, người lớn sẽ nhận ra rằng không phải thứ gì mình quan tâm và kể lể cũng là thứ người khác muốn lắng nghe.

Rốt cuộc sau nhiều thời gian và cả không thời gian, người ta cũng nhận ra hóa ra cái chết ở ngoài mình. Dẫu cho ai nói rằng mỗi ngày chúng ta đều từ từ chết đi, nhưng cái chết vẫn là thứ không cách gì đồng nhất, nuốt trọn được vào trong lòng. Vĩnh viễn là thứ không chạm đến được.


Nhưng ...
Read More

Saturday, 5 March 2016

Even the phrase ‘each other’

in Dalat mid of  Feb 2016


Beyond our ideas of right-doing and wrong-doing,
There is a field. I’ll meet you there.
When the soul lies down in that grass,
The world is too full to talk about.
Ideas, language, even the phrase ‘each other’
doesn’t make sense any more.

- Rumi -



Vượt xa khỏi những đúng sai cuộc đời
Sẽ có một cánh đồng
Tôi chờ em ở đó
Nghiêng tai vệ cỏ
Nói làm gì chuyện nhân gian…

(bản dịch của c.Giang)
Read More