Monday, 28 September 2015

Ngày đầu tiên ở Istanbul và những người bán hàng khu Sultanahmet

(trích từ topic đang viết bên phuot.vn "Thổ Nhĩ Kỳ - Em uống một ly trà táo nhé")


Chuyến bay của Emirates trôi đi yên ổn suốt những chặng trời mây từ SG- Dubai rồi từ Dubai-Istanbul. Sân bay Dubai lớn và có nhiều băng ghế dài cho những hành khách ngả lưng ngủ khi chờ transit. Những ai bay với Emirates và có thời gian quá cảnh trên 4 tiếng thì đều được tặng một phần ăn miễn phí ở Terminal 3.

Cuối cùng sau một quãng thời gian dài thật dài, nhóm đã đến Istanbul vào chiều tối ngày 25.4. Trời lúc đó vẫn còn se se lạnh một chút. Từ sân bay Ataturk về khu Sultanahmet, chúng tôi gọi taxi. Hoa tulip nở dọc theo hai bên đường. Đến tận lúc đó, tôi mới có cảm giác mình thật sự quay trở lại châu Âu độ cuối xuân rồi. Tôi gửi đi một tin nhắn ngắn: "Hoa tulip nở rộ khắp thành phố". Chỉ có một lời hỏi lại: "Em đang ở Hà Lan à?". Trái tim tôi chìm hẳn.

Khách sạn bọn tôi chọn nằm ngay ở khu Sultanahmet, tên là Antique Hostel. Bọn tôi có 4 đứa nên vừa vặn thuê hết 1 phòng dorm cho nữ, có 4 giường. Phòng ốc nhỏ nhắn, xinh xắn, giá tầm 20$/giường. Việc đầu tiên sau khi bung đồ ra là phải đi tìm đồ ăn. Quanh khu này có một vài nhà hàng, chất lượng cũng bình thường, không có gì xuất sắc lắm. Bọn tôi thử vài món bánh mì và kebab. Sau khi ăn xong thì một bạn đi về khách sạn nghỉ, còn ba người còn lại đi tìm xem có tiệm tạp hóa nào gần đó để mua nước. Đây là phần mở đầu của câu chuyện.

Nếu kể theo điểm nhìn của cái đứa đi về khách sạn trước thì nó nằm hoài trong khách sạn chừng hơn hai tiếng đồng hồ mà vẫn không hiểu sao không thấy đứa nào mang nước về. Không hiểu là tiệm tạp hóa ở xa lắm hay sao mà bađứa kia đi mãi không về được!

Còn nếu kể từ điểm nhìn của ba đứa đi mua nước thì đúng là... đi mãi không về được. Mà thật ra cái chỗ mua nước chỉ cách khách sạn tầm 200-300 mét. Lý do là vì tất cả những người bán hàng ở đây không bán hàng mà bán chuyện kể. Bạn đi qua cửa hàng của họ, chỉ tình cờ liếc mắt vào thì họ đã chạy ra hỏi han bạn, kéo bạn vào, kể chuyện này chuyện kia, mà chuyện nào cũng rất thú vị. Có người còn kéo tay bạn để chỉ cho bạn thấy trong quầy hàng của họ có bầy mèo con mới sinh rất dễ thương. Cuối cùng, bọn tôi gặp một cậu trai rất đáng yêu, khăng khăng hỏi: "Các cô thấy thảm bay chưa? Vào đây tớ cho xem thảm bay nhá!" Bọn tôi bảo: "Không, bọn tôi không mua gì đâu nhé." Cậu trai lại bảo: "Không mua cũng được, vào đây xem thảm bay đi." Thế là bọn tôi bước vào cửa hiệu của cậu. Cậu mang ra một cái thảm nhỏ chừng bằng một mặt bàn uống trà và quay tít nó trên đầu rồi ném xuống đất, sau đó lại nhặt lên, lặp lại hành động và ném xuống, trải ra mặt khác của thảm. Và rồi cậu bắt đầu bô lô ba la kể về chuyện cái thảm bay ở xứ Ả rập như thế nào. Cậu mời chúng tôi lên ngồi ở phòng trưng bày thảm ở tầng trên. Thế là chúng tôi được mời ly trà táo đầu tiên. Rồi cậu kể chuyện. Kể mãi, kể mãi chuyện đông chuyện tây thì cậu kể đến chính cậu. Cậu hóa ra còn trẻ măng, bỏ học college nửa chừng. Nói đến đây cậu làm vẻ mặt nghiêm túc: "Nhưng tôi biết rằng ở trong tôi, trái tim này luôn luôn chính trực."

Bọn tôi có bài học tiếng Thổ đầu tiên. Chữ cám ơn (Tesekkur ederim) là một cụm gì đó rất rất dài mà sau cùng cậu trai bảo: "Thôi các chị cứ đọc nó thành "Tea, sugar and cream" (mà sau đó bọn tôi đi đâu nói cụm từ này, cũng chả có ai hiểu, dĩ nhiên)

Cậu rủ chúng tôi cùng sang quán kế bên, khoảng 9-10h tối gì đó sẽ có điệu vũ dervish. Nhạc đã bắt đầu lên rồi nhưng bọn tôi không sang được. Bạn ở khách sạn hẳn đã chờ nước lâu lắm và chúng tôi cũng hơi hơi mệt sau một chuyến bay dài.

Ở khu Sultanahmet, chúng tôi biết được đặc điểm đầu tiên của những người bán hàng Thổ. Thật ra chẳng mấy ai mua thảm, mua đồ lưu niệm này nọ ở ngay khu này cả. Người ta sẽ đi Grand bazaar, sẽ đi những nơi khác,... Nhìn những người bán hàng trong những con đường nhỏ nhỏ ở Sultanahmet, tôi thấy có gì đó nơi họ như thể là một sự cố gắng tìm chút gì khuây khỏa trong lúc chờ đợi lượt buôn bán. Và họ giải khuây bằng cách trò chuyện với những du khách. Thật ra, nhìn theo cách nào đó, tôi nghĩ họ hơi cô đơn trong khu thành cổ này.
Read More

Saturday, 26 September 2015

Thành phố cổ kính cũ kỹ. Những người bán sách cũ tràn ra đường. Họ rao bán những ký ức cũ từ thời Soviet. Bữa tối trong nhà hàng không ai ngồi một mình. Tôi ngồi cùng 5 con mèo, một con chó và một con cừu bông, để tránh cảm giác cô đơn.
Read More

Sunday, 20 September 2015

Cinque Terre giữa trời và biển

Bài đăng trên Harper Bazaar Vietnam số 06/2015



Vào những ngày trời xám, hơi lạnh quấn lấy gót chân, tôi thường có ước muốn được nhìn thấy những màu sắc ấm áp từ một hoặc hai đóa hoa, một phiến lá xanh, một mảng trời nắng. Vì thế, tôi xỏ giày, quàng khăn và lấy chuyến tàu sớm nhất đến với năm ngôi làng của vùng biển Liguria. Không biết là do hơi biển ấm áp, gió biển dịu dàng hay do những ngôi nhà vốn luôn giữ sắc ấm trong từng màu tường, ô cửa mà hoa cỏ ở xứ này dường như lúc nào cũng rực rỡ, ngay cả vào những ngày đông lạnh lẽo nhất.


Đông Tây xuôi ngược, thương hải tang điền, có những địa danh đổi vận xoay vần đến không ngờ. Mười mấy thế kỷ trước, có ai ngờ thị trấn nhỏ Lutecia bên bờ sông Seine có lúc trở thành kinh đô ánh sáng Paris. Cũng có ai ngờ năm rẻo đất nhỏ đổ ra biển, như năm ngón tay duỗi vào biển xanh của Liguria lại thành một trong những nơi luôn nằm trong tâm tưởng của bao người. Cinque Terre vốn chỉ là một cụm làng chài giản dị, nhìn ra Địa Trung Hải. Ngay đến cái tên cũng không thể mộc mạc hơn : Năm Dải Đất, bao gồm : Monterosso, Vernazza, Corniglia, Manarola và Riomaggiore. Lịch sử của Cinque Terre bắt đầu từ nửa cuối thế kỷ thứ X. Sau một thời gian dài loạn lạc chiến tranh, những người dân đã di chuyển dần từ núi xuống vùng đất ven biển này và bắt tay vào xây dựng nhà cửa, làm những con đường nối liền năm vùng đất và canh tác trồng nho trên những thửa đất dọc triền núi. Do địa thế gần biển nên những cư dân này cũng phải xây những tháp canh và hệ thống phòng thủ chống lại cướp biển. Trong nhiều năm dài, vì vị thế khuất hẳn khỏi những nẻo đường chính trên nước Ý, Cinque Terre như một người đẹp ngủ quên. Nhịp sống hiện đại hối hả dừng chân đâu đó cách rất xa những ngôi làng nhỏ. Cho đến tận ngày nay, dù đã trở thành một địa danh du lịch nổi tiếng, nơi này vẫn có những gia đình vẫn giữ nghiệp chèo lưới và trồng nho trên những thửa ruộng bậc thang đặc trưng của vùng địa hình giữa Genoa và Tuscany. Để đến được Cinque Terre, nhìn ngắm và tận hưởng được vẻ đẹp được thời gian che chở này, người ta bắt buộc phải bỏ lại những phương tiện hiện đại như ô tô, máy bay. Một đoàn tàu nhỏ lững thững từ tốn chạy băng qua từng ga xép ven biển, một cuộc rong ruổi trên triền núi, nơi non nước như hòa sắc làm một, đó là những gì Cinque Terre tha thiết mời mọc người đến rong chơi.



Con đường giữa biển và mây
Năm ngôi làng, mỗi nơi mỗi vẻ. Monterosso có bờ cát dài. Vernazza có cảng biển nổi danh từ thời Roman và những ngôi nhà trải dài từ mỏm núi cheo leo cho đến sát tận bờ nước. Corniglia nằm ở điểm cao nhất trong ba ngôi làng, là trái tim của Cinque Terre ; muốn lên đến nơi phải leo 365 bậc thang. Manarola và Riomaggiore thì yên ả với những con ngõ nhỏ, hẹp mà người Ý gọi là caruggi. Cũng như nhiều ngôi làng vùng biển đặc trưng của Italia, Cinque Terre là một quần thể của những ngôi nhà đủ sắc màu. Nếu như ở Burano – Venice, người ta nhìn thấy tổ hợp màu sắc ấy trải dài theo bờ cảng thì ở Cinque Terre, cung bậc đa dạng này xếp tầng tầng lớp lớp, hòa lẫn vào với núi non, màu biển, màu trời, màu những tán cây. Lẩn khuất trong từng nếp nhà, nếp núi là những cây cam, chanh và trên những ban công, dàn nho vấn vít bám theo vòm cửa sổ. Tất cả đều đậm chất Địa Trung Hải.


Rất nhiều thế kỷ về trước, những người dân khi đi thăm thú từ làng này sang làng nọ đã làm một con đường men theo triền núi để nối liền năm ngôi làng lại với nhau. Và như để hòa lẫn cùng với chất thơ của thiên nhiên, người ta đặt cho cung đường cái tên rất trữ tình : Il sentiero azzuro – Con đường xanh. Con đường này dài gần 12km, bọc vòng theo triền núi, tạo thành một thế đi độc đáo dành cho người thưởng ngoạn : một bên là biển biếc êm đềm, một bên là vách núi với những thảm cây, vân đá.

Chặng đường khởi đầu từ Riomaggiore kéo dài cho đến làng Manarola cận bên có cái tên rất tình : Via dell’amore - Con đường tình yêu. Đến khi đi hết cả cung đường này, tôi mới chợt hiểu vì sao chỉ riêng đoạn đường này được đặt tên như vậy. Đây là đoạn duy nhất được lát đá, lối đi phẳng lặng, yên bình, cảm giác nhẹ nhàng, êm ái như một mối tình vừa chớm nở. Tôi đã đứng rất lâu ở một khúc quanh trên con đường này, nhìn sóng đập vào một mỏm đá giữa biển rồi lại lan ra thành những vòng bọt nhỏ. Chim nhạn và hải âu chao lượn trên đầu. Màu xanh của biển, của trời làm lòng mình hoài tưởng đến thứ cảm xúc mãnh liệt của thuở sơ kiến. Đâu đó nơi những lan can dọc theo triền núi, nhiều cặp tình lữ ghi tên mình vào những ống khóa đủ màu sắc rồi để lại đây lời thề hẹn. Đoạn cuối đường tình dẫn đến một đường hầm ngắn, trên vách khảm những tranh vẽ đất nung đầy màu sắc của sinh viên trường Academia di Brera. Những đoạn đường phía sau Con đường tình yêu gập ghềnh, trắc trở hơn rất nhiều nhưng cũng lại mang đến cảm giác hồi hộp, mong chờ và kỳ vọng sau mỗi một khúc quanh, bóng dáng một ngôi làng dần hiện ra. Ở cuối chặng đường màu xanh, Monterosso với bờ biển Fegina là phần thưởng cho đôi chân đã dần thấm mệt sau ngần ấy rong chơi.

Những ngôi làng ẩn giữa nếp thời gian

  

Mỗi chặng dừng chân ở các ngôi làng đều là một chuyến khám phá nho nhỏ. Hầu hết nhà cửa của Cinque Terre đều giữ nguyên kiến trúc cũ. Dấu tích xưa còn lưu lại trong những ngóc ngách của từng ngôi làng. Hầu như làng nào cũng có nhà thờ và nhà nguyện được xây dựng từ hơn 10 thế kỷ trước. Monterosso có nhà thờ thánh Giovanni Battista được hoàn thành từ năm 1244, nổi bật bởi những dài màu sọc xanh trắng và cửa sổ hoa hồng. Ngay gần bên là nhà nguyện Mortis et Orationis đậm nét kiến trúc baroque,  gìn giữ trong mình cây thụ cầm từ thế kỷ thứ 18. Ở Vernazza, phế tích của thành quách và pháo đài lâu đài Doria từ trước thế kỷ XI nằm khuất mình giữa cỏ cây. Còn ở Riomaggiore, do địa hình thoai thoải đổ xuống dần theo dốc núi, nhà cửa đều được xây dựng và gìn giữ theo lối kiến trúc cổ truyền : mỗi ngôi nhà đều có hai cửa ra vào, một cái quay về phía mặt đường thấp và cái còn lại trổ ra phía con đường dốc lên.

Cinque Terre đầy nắng ấm Địa Trung Hải nên khắp nơi đều thấy mèo nằm sưởi nắng, khi duỗi mình trên phế tích thành cổ, khi nằm gọn trong khoang thuyền trên bãi cạn. Có lẽ vì vậy, vùng đất này tự gọi mình là nơi chốn của những chú mèo. Hầu hết các ngôi nhà đều treo hình trang trí về mèo, ngay cả vật lưu niệm ở các boutique cũng bày tỏ sự ưu ái với loài mèo.



Cinque Terre còn khoản đãi người đến thăm bằng những trattoria nho nhỏ. Có một người Ý từng khuyên tôi rằng chính những trattoria như thế này mới là nơi nấu những món ăn ngon bậc nhất, chứ không phải những nhà hàng xa hoa nơi phố thị. Và quả thật, tại một nhà hàng địa phương nho nhỏ ở Corniglia, khuất sau một ngõ nhỏ khúc khuỷu, tôi đã có được một bữa ăn tuyệt vời nhất ở nước Ý. Hải sản được nấu cùng những loại thảo mộc mọc đầy khắp vùng Địa Trung Hải như hương thảo, húng tây, oregano, súp minestrone với cần tây, rau củ và pasta, kem Ý đủ loại mùi và ngon lành như một nụ hôn. Rượu trắng hoặc một ngụm Sciachetrà ngọt ngào được làm từ nho là một nốt kết hoàn hảo cho bữa ăn ở Cinque Terre. Chính thứ rượu trắng tuyệt hảo này là điều đã làm phồn vinh hưng thịnh lại Cinque Terre vào thế kỷ thứ XIX, sau một quãng thời gian hơn nửa thế kỷ nơi này bị bỏ quên vì một trận bão tàn phá toàn bộ năm ngôi làng.

Nếu như đứng từ biển xa nhìn vào, Cinque Terre như một cụm những ngôi nhà màu sắc xếp chồng lên nhau, đứng rạng rỡ trong nắng ấm. Mà dẫu cho vào những ngày không có nắng, tôi nghĩ bản thân năm rẻo đất này, cùng với tất cả điều ẩn chứatrong nó cũng đã có thể tạo thành thứ ánh sáng ấm áp riêng cho mình.





Read More

Thursday, 17 September 2015

ปีใหม่ ở cửa hàng Cosmo

Chiang Mai giống như một cô gái đáng yêu và đáng được người ta đến thăm nhiều lần, bởi tiếp xúc mãi mà vẫn không biết chán. Nhà cửa duyên dáng, người dân cởi mở, luôn sẵn lòng kể chuyện và đường phố thì yên tĩnh, phủ rợp bóng cây xanh. Trên Doi Su Thep, mùa xuân còn có hoa đào nở nữa :)

Tháng ba năm nay, tôi lại quay lại Chiang Mai. Một buổi chiều, tôi đi bộ dọc theo những con đường ở khu Nimmanhaemin. Đây có lẽ đây là khu mà tôi thích nhất ở Chiang Mai. Khu Nimman chia là đường chẵn và lẻ. Tôi có thói quen đi bộ ngoắt ngoéo hình chữ chi từ đường này sang đường khác, vì mỗi góc nhà ở đây đều có một chi tiết gì đó rất thú vị. Thế rồi, ở cuối hẻm số 3, tôi gặp ปีใหม่.

ปีใหม่  có nghĩa là năm mới, đọc lên nghe gần giống như Pimai. Tôi thấy em chạy vọt ra từ một cánh cổng hơi hé mở. Tôi biết tên em là ปีใหม่ vì ngay sau đó, một ông già chạy ra, gọi em và vội túm lấy em. Em gầm gừ ra vẻ khó chịu. Tôi đứng nhìn cảnh một người một chó càu nhàu lẫn nhau và đúng lúc ấy ông già ngẩng lên, thấy tôi. Tôi mỉm cười.

Và thế là tôi đi vào cái cửa hàng tên Cosmos đó. 5 giờ chiều, cửa hàng vắng tanh, không một bóng người. Nhà bên cạnh đang xây sửa chi đó, tiếng búa đập thi thoảng lại choang choang. Ông già mời tôi đi dạo một vòng quanh cửa hàng. Hầu hết đều là những thứ tôi không mua được hoặc không có nhu cầu mua. Túi da thiết kế,  khăn lụa, tranh sơn dầu theo kiểu trừu tượng (mà ông già bảo : "Chính tôi vẽ nó đấy. Cô biết đó, trừu tượng là cái thể loại ai muốn tưởng tượng sao cũng được. Nhưng cô thấy nó thế nào?"). Ông già có những ý tưởng lạ lùng về những thứ mình bán. Một chiếc túi da dài, vốn dùng để chai rượu, nhưng ông ấy bảo: "Tôi cảm thấy nó đặc biệt hữu ích cho phụ nữ khi đi đâu về lúc tối trời. Cái này y như một cây dùi cui ấy, có thể dùng làm đồ tự vệ khá tốt!" Một chiếc giỏ xách xếp lại thành nhiều hình thù khác nhau và ông ấy bảo: "Từ bác sĩ cần cầm ống nghe hay dụng cụ phẫu thuật cho đến sinh viên cần bỏ tập vở giấy tờ đều dùng được cái túi này hết."

Ông thừa biết tôi không mua gì cả nhưng vẫn lôi tôi đi khắp cửa hàng để trò chuyện về các món đồ. Sau cùng tôi được mời vào "phòng làm việc". Đó là một gian phòng nằm trong cùng. Ông già dè dặt hỏi bây giờ máy tính đang chơi loại nhạc này, nghe có hợp tai tôi không, nếu không thì đổi nhé. Rồi bọn tôi ngồi xuống ghế nói chuyện. Bắt đầu từ chuyện du lịch, vì sao ông ấy từ Mỹ chuyển sang sống ở Chiang Mai. Ổng ấy bán hết sản nghiệp ở Mỹ và cùng người bạn thiết, một tay họa sĩ, quyết định đi xem xét vài nơi ở châu Á để sống. "Những tháng ngày cũ, đôi khi bọn tôi đi săn, đôi khi đi câu, nhà hạ, dễ chịu. Nhưng cô biết đó, chúng tôi đã bắt đầu già, vật giá ở Mỹ thì đắt đỏ. Bọn tôi sợ có lúc không chi trả nổi tiền bảo hiểm y tế. Mà không có bảo hiểm, chúng tôi sao sống được. Cuối cùng trong lúc đi đây đó, chúng tôi thấy Chiang Mai, phải lòng nó ngay lập tức. Bốn tháng sau, chúng tôi dọn đến Chiang Mai và mở Cosmo." Đó là chuyện của 10 năm trước.

Rồi chúng tôi nói về những thứ kiểu như quá nửa số người trẻ ông gặp chưa hề có passport vì họ không định du lịch nước ngoài bao giờ, hoặc chuyện ông biết ở Việt nam có một người trồng hoa cảnh và bán hoa nhập khẩu đẹp lắm (mà sao giờ kiếm lại trên internet thì lại không thấy nhỉ? Đấy, khi cần người ta chẳng bao giờ tìm ra được đúng lúc!)

Chuyện trò đang rôm rả thì có tiếng chuông đồng hồ thong thả gõ nhịp. Ông già đứng bật dậy : "Cô may lắm đấy nhé. Cô được nghe tiếng chuông của cái tuyệt tác này. Một ngày nó chỉ đổ chuông 2 lần thôi, 12 trưa và 6h chiều." Ông dắt tôi lại chỗ chiếc đồng hồ. Nó bé chỉ bằng một chiếc hộp đựng thư. Ông già phấn khích kể về nó: "Đồng hồ từ thế kỷ 19 đấy. Giờ nó không còn chính xác lắm, mỗi năm nó lại chậm đi một chút. Ngày trước bọn tôi để nó đổ chuông thường xuyên hơn, nhưng gần đây nó có vẻ già yếu quá rồi nên một ngày hai bận thôi. Hãy nhìn tất cả đống bánh răng kia kìa. Một tuyệt tác đấy."

Và rồi tôi ngắm cái đồng hồ một lúc, nhận ra rằng 6h chiều, trời đã dần tối, đã đến lúc phải đi. Ông già dúi vào tay tôi một tấm thiếp ghi địa chỉ Cosmo và bảo bao giờ rảnh thì quay lại chơi nhé. Có lẽ nhiều ngày chẳng có vị khách nào đến. Người bạn thân thì đi chu du chốn nào chưa về. ปีใหม่ thì lúc nào cũng hăm hở muốn lao ra bên ngoài. Trong tiệm chỉ có một ông già, một con chó và một chiếc đồng hồ mỗi năm lại chạy chậm đi một chút...

Về ปีใหม่, sau cùng, trước khi chào tạm biệt, tôi biết em được đặt tên như vậy vì em đến với Cosmo vào đúng đầu năm mới. Hai gã bạn già tìm thấy một niềm vui bé bỏng, mắt đen, lăng xăng chạy qua lại giữa những đồ vật buồn hiu ở Cosmo. Đó là một ngày đầu năm mới.

Tôi không có bức ảnh nào về Cosmo,  ปีใหม่ và người chủ cửa hàng. Thôi, nhìn ngắm tạm những góc khác của Nimman nhé.

 




Read More

Monday, 14 September 2015

Colmar mùa lá còn xanh

Bài đăng trên Harper Bazaar số 05/2015 với tựa đề "Đến Colmar mùa xanh lá"


Photo: whenonearth


Thuở đó nhà tôi cách Colmar chỉ mười lăm phút. Một năm tôi đến với Colmar năm lần. Ai nghe cũng ngạc nhiên, ngay cả người Colmar, vì nơi này nhỏ lắm. Người ta đến cái thành phố thượng nguồn sông Rhin này, đi loanh quanh chừng một vài tiếng đã thấy lòng no đủ. Nhưng lần nào đến với Colmar, tôi cũng mang theo nhiều mê đắm, chờ mong và có biết bao hạnh ngộ với những điều bất ngờ nho nhỏ. Colmar với tôi như cuộc hẹn hò với người tình bé bỏng, chưa bao giờ hết đắm say.




Những con đường lát đá miền Đông Bắc

Người châu Âu chưa bao giờ che giấu lòng ngưỡng mộ của họ với Venice nên rải rác đây đó trên khắp lục địa này, địa danh gọi là Little Venice không thiếu. Bruges ở Bỉ, Annecy ở Pháp, Giethoorn ở Hà Lan,… Không nằm ngoại lệ, Colmar cũng được ví von với huyền thoại nước Ý, bởi nơi đây có dòng Launch yêu kiều đổ xuống từ tả nguồn núi Vosges, uốn lượn quanh những ngôi nhà kiểu Alsace.

Người ta đến với từng thành phố của Alsace này vì những lý do khác nhau. Strasbourg là thủ phủ hành chính của vùng, nơi có trụ sở của Hội Đồng và Nghị viện Châu Âu. Mulhouse, nơi được mệnh danh là thành phố ngàn ống khói, là trung tâm của những nhà máy công nghiệp hàng đầu. Còn Colmar, người ta tìm đến đơn thuần chỉ vì nàng đẹp và nàng có những câu chuyện kể rất duyên.

Mỗi lần tôi ghé thăm Colmar, mùa màng lại thay đổi, nhuộm lên những góc phố những màu sắc khác nhau. Tháng mười lá bắt đầu nhuốm vàng những tán cây lác đác đây đó trong khu phố cổ. Tháng mười hai chợ Giáng Sinh thêm vào những ánh đèn rực rỡ cùng hương vị quế hơi cay cay trong ly vang đỏ sóng sánh ấm áp. Tuyết trắng như bông đường rắc lên những ngôi nhà như kẹo ngọt. Tháng ba hoa thủy tiên, hoa iris tím nhô mình lên khỏi những chậu đất rải dọc theo con đường lát đá. Nhưng điều đọng lại vĩnh viễn theo tháng năm là màu hoa phong lữ thảo nơi những ô cửa Alsace. Suốt bốn mùa, màu hoa như đốm lửa đỏ bừng cháy nơi từng góc phố, mái nhà. Màu sắc dập dìu thắp đi thắp lại, âm ỉ mãi trong lòng tôi trong nhiều năm tháng về sau.

Colmar là nơi ký ức thời gian còn đọng trọn vẹn. Tôi có niềm vui thích được mặc một chiếc váy midi, đi giày boot cao gót, khoác một chiếc khăn choàng mỏng và bước đi trên những con đường lát đá nơi phố cổ, lắng nghe tiếng gót giày của mình khua theo từng bước chân. Lúc đó tôi không còn nhớ được bây giờ là bao giờ và đây là đâu. Thời Trung Cổ, những người buôn bán tụ hội lại thành từng nhóm, từng phường. Trên những ngôi nhà có tường nẹp gỗ, lác đác đây đó vẫn còn những biển hiệu dí dỏm của hàng xén, hàng thịt theo kiểu xưa. Kiến trúc của Colmar đậm chất Alsace, đẹp như một câu truyện cổ: mái ngói đỏ và đen dốc thẳng, tường nẹp gỗ, sơn những màu sắc tươi tắn, cửa sổ trổ nơi áp mái và ở khắp tất cả các tầng nhà, mỗi ô cửa sổ lại trang hoàng quanh mình vô vàn sắc hoa.

Đi dạo ở Colmar là một thú vui, một loại trải nghiệm lạ lùng mà rất ít nơi có thể đem lại cho những tâm hồn mơ mộng. Những nhãn hiệu quen thuộc nơi thành thị lớn, nay nằm nép mình yêu kiều trong nếp nhà cổ, bên cạnh những boutique nho nhỏ bán vô vàn thứ xinh xắn và duyên dáng. Tôi đi một lúc lại dừng một lúc, khi thì cửa hàng craft để xem những mẫu giấy ép hoa, khi thì cửa hàng len sợi với người phụ nữ luống tuổi vừa nheo mắt cười vừa thành thục đan những tấm khăn tinh xảo. Colmar cưng chiều trí tưởng tượng của tôi, cho tôi ngỡ như mình đang sống vào mấy trăm năm trước. Mỗi bước đi lại như trải qua một thế kỷ. Maison Pfister và Maison de Têtes từ thế kỷ XVI-XVII, đậm chất kiến trúc Phục Hưng Đức, Poêle des laboureurs in dấu kiến trúc Baroque Đức, Cour d'Assises tiêu biểu cho kiến trúc Tân cổ điển Pháp,… Colmar như người tình bé nhỏ, đôi lúc nghiêng về Pháp, thi thoảng lại ngả về Đức. Lịch sử và kiến trúc giao thoa, tạo thành một bản hòa ca êm đềm. Và rồi khi ngẩng đầu lên, người ta sẽ nhìn thấy chiếc tổ cò trên mái nhà thờ Saint Martin. Những con cò đến mùa lại bay về tìm nơi nương náu, yên bình như một nốt lặng của tấu khúc vùng Alsace.


Những câu chuyện nhỏ ở bảo tàng

Mọi thứ ở thành phố này đều nhỏ nhắn, ngay cả những bảo tàng. Colmar lặng lẽ giãi bày những câu chuyện, từ tốn kể từng chút một. Bảo tàng Unterlinden có cái tên rất thơ: Dưới bóng cây đoạn. Ngày trước đây là tu viện lớn nhất của vùng Alsace, nay trở thành nơi trưng bày những kỷ vật và tranh ảnh từ thời Trung Cổ và Phục Hưng. Những ai có đam mê với lịch sử nghệ thuật đều biết Unterlinden gìn giữ trong mình bức altarpiece Issenheim danh tiếng của Grünewald và Haguenau. Vào lúc chiều ngả nắng, khi đi dọc hành lang của bảo tàng tu viện này, nhìn những vệt nắng và những bóng cột hắt lên tường, trí tưởng tượng của tôi bay xa, tưởng đến bước chân âm thầm của những tu sĩ dòng Dominican mấy trăm năm về trước.

Photo: Harper Bazaar

Không cách xa Unterlinden lắm là căn nhà của Auguste Bartholdi, người đã thiết kế bức tượng Nữ thần tự do mà nước Pháp năm 1886 gửi tặng Hoa Kỳ. Biểu tượng của nước Mỹ giờ đây vang danh khắp thế giới mà câu chuyện về Bartholdi vẫn yên lặng khiêm nhường nằm lại ở một ngôi làng bé nhỏ miền Đông Bắc nước Pháp. Căn nhà nơi Bartholdi ra đời nay trở thành một bảo tàng tưởng niệm, trưng bày các tác phẩm của nhà điêu khắc này. Những bức tượng trắng, những bức tượng đồng nằm trong căn phòng cũng trắng toát. Đôi mắt của từng bức tượng như dõi theo từng cử động của những con người đến rồi đi như cơn gió thoảng.

Ở một con đường khác, tọa lạc ngay giữa lòng phố cổ là bảo tàng Đồ chơi, nơi chốn không phải chỉ dành cho trẻ nhỏ mà chào đón cả những tâm hồn muốn hoài vọng về thời thơ ấu. Ba tầng nhà đầy ắp những thứ đồ chơi dây cót, búp bê và máy móc. Ở trong thế giới ấy, truyện“Cáo và Cò” của La Fontaine hoặc Cinderella của Perrault, vốn đã là một phần trong tuổi thơ của tất cả các em bé Pháp, được thể hiện lại bằng mô hình rối máy sinh động. Và tôi đứng mê mải trước một em búp bê có mái tóc màu nắng. Trong tôi từ đâu vọng lại tiếng hát trong trẻo thuở còn thơ:


« Au clair de la lune,

Mon ami Pierrot,
Prête-moi ta plume
Pour écrire un mot.
Ma chandelle est morte,
Je n'ai plus de feu.
Ouvre-moi ta porte
Pour l'amour de Dieu. »

Tôi biết nào phải riêng tôi tự ru mình với giấc mơ này. Cái ngày tôi ngồi im lặng xem bộ phim của Miyazi Hayao, tôi biết người kể chuyện xứ Phù Tang ấy cũng phải lòng nàng thơ Colmar. Ngôi nhà Pfister từ thế kỷ XVI cùng nhiều nét kiến trúc của thành phố nhỏ vùng Alsace đã đi vào phim Lâu đài của pháp sư Howl. Và như người ta nói, để chiêm bái vĩnh viễn vẻ đẹp của một người đàn bà, hãy đem nàng vào một tác phẩm nghệ thuật, nơi nàng trở thành một nàng thơ vĩnh viễn không nhuốm màu tuổi tác.

Ngày cuối cùng tôi rời Colmar là một ngày lá xanh, cái màu non trẻ của thanh xuân đó như ửng cả lên nền trời. Màu hoa phong lữ thảo rực rỡ trên từng ô cửa sổ. Khi ngửa đầu, nhìn thấy những tia nắng tháng năm xuyên qua nhành lá, tôi biết Colmar đang gửi đến tôi nụ hôn của những ngày hoa niên, để mong tôi mãi còn đắm say mà quên lối về.



Read More

Saturday, 12 September 2015

12 ngày nữa





photo: from Internet

Hippocrates viết rằng dân ở vùng này sống trong đầm lầy, dựng nhà từ những thứ nhặt nhạnh được xung quanh, đi đây đi đó trên những con thuyền nhỏ và ngày ngày uống nước mưa. Ông ấy còn kể thêm rằng người xứ này cao to béo tốt đến độ nhìn mãi mà vẫn không thấy mặt họ đâu cả.

Tháng 9 tháng 10, những con raptors sẽ về đầy hồ, làm gợi nhớ đến cuộc chiến của Heracles, cũng ở một đầm lầy như thế này.
Read More

Thursday, 10 September 2015

Những phác họa xuân





Truyện dịch vào mùa xuân năm 2012, gửi cho Nhã Thuyên đăng trên tạp chí hay báo gì, mình chẳng nhớ rõ nữa.




Những phác họa xuân 

Katherine Mansfield
I.
Trời đang mưa. Những hạt mưa tròn to vỡ tung trên tay trên gò má người ta, hơi ấm lan tỏa trên những giọt mưa ấy làm chúng hệt như những ngôi sao tan chảy. “Hoa hồng đây! Hoa loa kèn đây! Hoa violet đây!” một mụ già xấu xí khào khào rao lên từ ngay rãnh nước. Nhưng những bông loa kèn được bó chụm lại trong một miếng giấy trang trí xanh lét, trông chẳng khác khi mớ súp lơ. Mụ già đi loanh quanh kéo lê cái xe cút kít kẽo kẹt. Mùi tởm lợm phát bệnh bay ra từ cái xe ấy. Chẳng ai thèm mua. Mụ à, phải đi vào giữa đường ấy, vì chẳng còn tí chỗ trống nào trên vỉa hè. Các cửa hàng thừa mứa những dải đăng ten ố ố và những sợi ruy băng bẩn bẩn nhằm mê hoặc và thu hút mụ. Có những cái bàn phô bày đầy những khẩu đại bác đồ chơi, rồi lính tráng, rồi khinh khi cầu rồi khung hình với khuôn mặt đẹp lúng liếng. Có những chiếc giỏ to đựng đầy nón rơm vàng xếp chồng lên trông như những kim tự tháp bánh, rồi bao nhiêu là chuỗi giày và bốt đủ màu bé xíu xiu, không ai đi vừa. Có cửa hàng lại đầy những áo mưa xếp vuông vuông, cái màu hồng cho bọn con gái, cái màu xanh cho lũ con trai, cái nào cũng có in chữ Bébé ở ngay giữa áo.

“Hoa loa kèn đây! Hoa hồng đây! Hoa violet đẹp tuyệt vời đây!” mụ già thẽ thọt, va sầm vào một cái xe đẩy khác. Nhưng cái xe này không sao cả. Nó chất đống toàn rau diếp. Chủ của cái xe là một mụ già béo, ngồi ườn ra, thiu thiu ngủ, mũi chúi vào đống rễ rau diếp… Liệu ai mà lại định mua thứ gì ở đây chứ? Người bán hàng rặt toàn đàn bà. Họ ngồi trên những cái ghế đẩu vải bạt, nhìn  mọi thứ mơ màng và đờ đẫn. Thỉnh thoảng một người trong đám đứng dậy, lấy cái chổi phủi bụi, trông như một ngọn đuốc ám khói, phe phẩy vài cái trên mấy thứ hàng hóa rồi lại ngồi phệt xuống. Ngay cả người đàn ông già với cặp kính đồi mồi và bụng phệ như quả bóng, đứng xoay xoay vòng hình bưu thiếp hoạt hình, cũng chẳng quyết đoán hơn…

Đột nhiên, từ một cửa hàng trống ở tận trong góc, một âm piano vang lên, rồi tiếng violin và sáo cùng hòa điệu. Cửa kính của cái hàng ấy ghi nguệch ngoạc “Ca khúc mới. Tầng một. Vào cửa miễn phí” Nhưng dẫu cửa sổ tầng một có luôn mở, cũng chẳng có ma nào thèm vào. Họ hầu như chỉ nhếch mép cười khi tiếng nhạc gay gắt vơ vẩn trong không khí ngày mưa ấm áp. Ở ngay cửa ra vào là một người đàn ông gầy gò mang dép rơm chật ních. Ông ta cài một cái lông chim ngay chỗ vành mũ gãy gập và ông ta đội cái mũ ấy trông vênh váo làm sao! Cái lông cài thật quá bảnh. Gù vai óng vàng, áo khoác có khuy khuyết thùa, găng tay trẻ con màu trắng, gậy chống mạ vàng. Ông ta nghênh ngang với cái mũ và từ lồng ngực ông vang lên một chất giọng trầm trầm.

“Xin mời! Xin mời! Ca khúc mới toanh đây! Các ca sĩ đều là nghệ sĩ lừng danh châu Âu! Dàn nhac nổi tiếng có một không hai. Quý vị muốn thưởng thức bao lâu cũng được. Cơ hội chỉ có một lần”. Nhưng chả ai đến cả. Sao mà họ phải đến chứ? Họ biết tỏng mấy cô nàng này – những “nghệ sĩ lừng danh”. Một cô thì vận đồ cashmere màu kem, cô kia thì áo xanh. Cả hai nàng đều tóc xoăn sẫm màu và giắt hoa hồng hồng ngay tai… Người ta cũng biết tường tận về người đánh đàn piano, biết đến cả cái cúc gài bốt, cái chân trái để đạp pedal piano, cái chân ấy có nốt viêm tấy ở ngón cái to tướng. Người đàn violin thì móng tay cắn nham nhở, người thổi sáo thì tay áo dài lụng thụng, những ngữ ấy cũ mèm, cũ y hệt như những ca khúc mới mà họ rao lên…

Nhạc tiếp tục và tiếng ca vang rền một lúc lâu. Rồi ai đó í ới dưới cầu thang và ông bầu, vẫn vênh váo như trước, biến đâu mất tăm. Tiếng hát thưa dần. Tiếng piano, violin và sáo từ từ tắt ngúm. Chỉ có chiếc rèm đăng ten khẽ đong đưa dấu hiệu của sự sống tồn tại nơi tầng một.

Trời vẫn đang mưa; trời trở nên tối hơn. Hoa hồng này! Hoa loa kèn này! Ai sẽ mua những đóa violet của tôi ?

II.

Hy vọng! Mi – kẻ đáng thương! Mi, đồ đa cảm! Mi, bọn đàn bà héo tàn! Bứt hết dây đàn đi rồi chấm dứt ngay! Tôi sẽ lên điên mất với tiếng đàn đơn điệu không dứt của các người; tim tôi thổn thức và mỗi mạch giần giật khi nhạc vang. Trời sáng rồi. Tôi nằm trên chiếc giường trống trải – chiếc giường lớn như một cánh đồng, lạnh cóng, bơ vơ. Qua mái che, ánh mặt trời ánh lại từ sông và dập dờn trên trần nhà như những gợn sóng. Tôi nghe ngoài kia có tiếng búa đập, rồi xa xa hơn là tiếng cánh cửa sập vào, mở ra. Đây là phòng tôi sao? Quần áo tôi vắt trên ghế bành kia sao? Dưới gối, chiếc đồng hồ hình một người đàn bà cô đơn đang vang tích tắc. Chuông cửa thảng thốt vang lên. A, cuối cùng cũng đến! Tôi bật dậy khỏi giường và lao ra cửa. Nhạc chơi nhanh hơn, nhanh hơn nào! Hy vọng ơi!

“Sữa của cô đây thưa cô” người giữ cửa nhìn tôi hờ hững.
“À, cảm ơn” Tôi khóc, cầm chai sữa lên “Không có thư từ gì cho tôi à?”
“Không có gì thưa cô”
“Nhưng người đưa thư, anh ta có ghé qua chưa?”
“Hơn nửa giờ trước rồi cô ạ”
Đóng cửa. Đứng thừ ra giữa lối đi một lúc. Lắng nghe – lắng nghe tiếng đàn tưng tưng đáng ghét của ả. Dỗ dành ả - ve vãn ả - van nài ả chơi chút nhạc gì đó duyên dáng chỉ trên một dây tơ. Trong hão huyền.

III.
Bên kia con sông là một lối đi rộng rải đá viền quanh bờ sông, một người phụ nữ đang bước đi. Nàng bước xuống những bậc thang từ bến cảng, bước đi chậm chậm, một tay đặt ngay hông. Đó là một tối đẹp trời, bầu trời như có màu của những đóa tử đinh hương và màu sông thì như lá của hoa violet. Những cây to dọc con đường đẫm đầy ánh sáng run rẩy và con thuyền nhấp nhô nhảy múa, mang đến những làn bọt sóng gần như gợn gợn lên chân nàng. Giờ thì nàng dừng lại hẳn. Giờ thì nàng bất chợt ngoảnh lại. Nàng tựa vào một thân cây, hai tay phủ mặt, nàng khóc. Và giờ nàng lại bước tiếp, hai tay vặn vẹo. Rồi nàng lại tựa vào thân cây, quay lưng vào nó, đầu nàng ngẩng lên và tay nàng xiết chặt như thể nàng tựa vào người yêu dấu. Vai nàng quàng một chiếc khăn xám, nàng lấy vạt khăn phủ lên mặt, vai cứ rung rung.

Nhưng nào ai có thể khóc hoài khóc mãi được, thế nên cuối cùng, nàng trấn tĩnh lại và im bặt, vuốt lại tóc, vuốt lại tấm tạp dề. Nàng đi từng bước nhỏ nhỏ. Không, nhanh quá, chóng quá! Lại lần nữa, hai tay nàng vung lên, nàng chạy ngược về nơi cũ, nàng ôm lấy thân cây cao. Những ô ánh sáng vàng rọi ra từ những mái nhà, ánh đèn đường lập lòe xuyên qua lá, những rẻ ánh sáng đèn vàng dập dờn theo những con thuyền. Trong một khoảnh khắc, nàng như một chiếc bóng nhòe tựa vào cây, trắng, xám và đen, đổ xuống những hòn đá và những chiếc bóng. Và rồi, nàng đi mất.


Read More

Wednesday, 9 September 2015

From Riga - Latvia


A photo posted by @quynhlepq on


Nấu 108 món ăn, 108 món tráng miệng rồi tặng nhau 108 nhành hoa trắng  
Read More

Tuesday, 8 September 2015

Cá sấu hoa cà



Tranh Dan Ah Kim

Lúc tôi bước ra khỏi khu phố, đèn đường đã bắt đầu sáng. Chỉ có một cái đèn với núm tròn tròn, và cái vành chụp cũng tròn xoe như một con đom đóm phồng to đôi cánh quá mức trong đêm để soi một khoảng chập chờn sâu trải mãi về phía trước.

Con đường dài, thật dài, dài đến mức đi mãi mà có cảm giác nó xuyên ngang qua khắp thành phố, xuyên qua vách mọi ngôi nhà xếp san sát cạnh nhau. Có mùi rêu ẩm ẩm trên những mép tường loang lổ gạch và vôi vữa tróc lả tả. Tự dưng nhớ lại mấy câu nói hồi chiều của đứa em gái. Khi đó, tôi đứng tì tay lên cửa sổ phòng nó và bảo:

- Em chắc là cũng ít về nhà nên phòng không có hơi người, rêu mới lan khắp bậc cửa thế này.

Em gái tôi vẫn ngồi khuất trong một góc sẫm trong phòng nên tôi không thấy được khuôn mặt nó, cũng chẳng nghe nó trả lời gì. Nắng chiều chiếu vào đúng hai bàn chân của nó đang duỗi ra, làm tôi có cảm tưởng chúng đang chuyển sang một màu cam nhàn nhạt. Tôi lại bảo:

- Sao không về nhà hả em? Về đi, em có gì làm ở đây đâu? Em ở đây làm gì?

Lần này thì tôi nghe con em trả lời rất khẽ:

- Ở lại đây để xem rêu mọc. Mỗi tối mọc một ít.

Đường phố càng ngày giờ lên đèn càng sớm. Chẳng hiểu vì sao. Có lẽ càng ngày thiên hạ càng sợ bóng tối. Mà bóng tối thì cứ lẩn khuất đâu đó, trong suốt thảng hoặc chập chờn ngay cả trong nắng, trong gió, trong cây xanh, trong cả những thân rêu xanh ngăn ngắt vừa nhú lên. Càng thắp đèn sớm, trời lại càng mau tối. Tôi ngẩng nhìn lên bầu trời bị những mái nhà cao che cả, chỉ còn một dải dài màu xanh đậm. Nhìn như một con đường lật ngược trơn tuột vắt ngang ngay trên đầu, vừa gần vừa xa. Vẫn chưa tối hẳn mà sao ngõ phố đi âm u quá. Lại nhớ lúc con bé em tiễn tôi ra cửa, tôi vừa cột dây giày vừa hỏi:

- Trời chưa tối, bây giờ anh về rồi thì em làm gì?

Cô em nhỏ đứng tựa vào khung cửa trả lời nhát gừng:

- Em không biết. Chắc lên phòng bật đèn lên.

- Chưa tối mà em.

Không nghe câu trả lời. Lúc tôi ngẩng đầu lên đã thấy đứa em đang đi lên cầu thang, quay về phòng. Có lẽ nó thấy cần phải đi bật đèn lên thật. Biết đâu trời đã tối thật.

Vách tường hai bên đường đi tỏa ra một thứ hơi man mát, lành lạnh và không hiểu sao lại làm người ta có cảm giác rằng nó mang một thứ màu sắc sẫm màu mờ mờ. Chỉ cần đi thêm chút xíu nữa sẽ ra đến đường cái ngoài kia. Đường cái sáng rực rỡ ánh đèn. Bất giác tôi đi chậm lại, đưa tay miết nhẹ lên vách tường. Rêu êm êm và bám vào kẽ móng tay. Lại nhớ hồi bé, cách tháng một lần mẹ dúi vào tay hai anh em cái bàn chải và bắt chà sân. Cái sân gạch tàu đỏ, trời mưa xuống hay bám rêu. Con bé em thích miết tay lên những mảng rêu vừa tróc ra. Cuối buổi bao giờ cái sân cũng sạch bong mà tay chân con bé thì xanh lè.

Đường đi ở đây cũng lát những mảnh gạch vỡ màu đỏ. Và cũng có rêu. Rất trơn, mẹ nói đúng, đường gạch tàu có rêu trơn lắm, nhưng chẳng sao, tôi có ngã đâu. Từ bé đến lớn, tôi ít ngã mà cũng ít thấy người khác ngã. Có lẽ người ta thường hay bị ngã trong truyện và phim hơn. Hay ở đó đường đi nhiều rêu hơn?

Ừ, cuối cùng cũng đã ra đến đường chính. Ngoảnh đầu nhìn lại thấy con phố mình vừa ra khỏi hình như càng lúc càng co hẹp lại, bóng tối co cứng lại và vì thế sẫm màu hơn. Đường đi nhỏ lại đến mức mình chẳng tin nổi rằng mình vừa từ đó bước ra.

Tôi gọi xe và đưa địa chỉ cần đến. Tại sao con bé em chẳng bao giờ hỏi anh nó rằng: “Tối nay anh làm gì?”. Nếu em hỏi, anh sẽ ngồi xuống bên bậu cửa sổ của em và kể cho em nghe hết tất cả mọi chuyện. Nhưng em chẳng bao giờ hỏi cả. Em bao giờ cũng chỉ trả lời những câu hỏi của anh và bao giờ cũng trả lời bằng cái giọng lửng lơ chả đầu chả cuối. Sao thế hả em? Từ bao giờ rồi em đã không còn đặt câu hỏi nữa?

Người chở tôi đi là một ông xe ôm mặc chiếc áo xanh sẫm, nhìn y hệt như màu trời bây giờ, khiến tôi cứ muốn chạm tay vào vai áo ông ta mãi. Những người lái xe ôm bao giờ cũng thích trò chuyện với khách. Hình như cảm giác chở một người xa lạ trên xe mình mà câm lặng suốt quãng đường đi là một cảm giác không thể chịu đựng nổi. Người đàn ông này có một giọng nói nghe sắc sắc. Ông ta huyên thuyên mãi về chuyện giá xăng, chuyện giá vàng, chuyện bóng đá trong khi tôi lơ đãng trả lời, đầu óc còn bận với vài suy nghĩ vẩn vơ.

Rồi bất chợt chúng tôi rời bỏ đại lộ rất sáng đèn để rẽ sang một con phố nhỏ hơn. Vẫn có đèn nhưng bóng tối lại lẩn khuất đâu đây và tôi có thể cảm giác nó đang len nhè nhẹ qua tóc tôi. Và bỗng dưng người lái xe ôm quay đầu lại hỏi:

- Lúc nãy quên không chỉ cho cậu xem rạp xiếc Thủ Lệ. Cậu thấy nó chưa nhỉ?

Tôi lại trả lời nhát gừng:

- Rồi.

Và rồi tôi nhớ ngay đến cái rạp xiếc khởi đầu cho mọi câu chuyện bây giờ, mọi câu chuyện mai sau và còn mai sau mai sau nữa, mãi mãi chẳng bao giờ chấm dứt nổi. Bé em của anh, phải chi có một lần nào anh được kể em nghe thật điềm tĩnh, thật nhẹ nhàng và từ tốn kỷ niệm thời chúng mình còn bé, kỷ niệm về cái rạp xiếc đã làm khởi quay bánh xe cuộc đời chúng mình.

Anh có thể bắt đầu mọi chuyện bằng một câu thật đơn giản vô cùng thế này:

Hồi đó hai đứa còn bé lắm. Tôi mười bốn và em tôi lên mười.

Thế thôi, và mọi chuyện sẽ tự trôi chảy ra, tự mình đi hết hành trình của truyện kể. Anh đã khát khao biết bao được kể lại câu chuyện của mình, chẳng để làm gì cả, anh biết, nhưng anh vẫn muốn kể, anh cần kể lại để khuây khỏa chính mình. Nhưng em gái nhỏ của anh, chẳng bao giờ em để anh nói được câu nói ấy. Chỉ cần nhắc đến hồi mình còn bé là em đã đứng lên và bỏ đi rồi.

Vì thế, tôi lại đặt tay lên vai áo màu trời đổ sẫm của người lái xe ôm và nói:

- Ông biết không, hồi bé tôi và em gái tôi cũng đã từng được mẹ cho đi coi xiếc đấy. Hồi đó hai đứa còn bé lắm. Tôi mười bốn và em tôi lên mười. Có một người họ hàng mời cả nhà tôi lên phố để dự đám cưới. Rồi mẹ dẫn tôi và em đi xem xiếc. Vé hồi đó với chúng tôi là rất đắt nên hai anh em ngồi rất ngoan trên băng ghế, không vòi vĩnh mẹ mua quà bánh gì cả. Em gái tôi lần đầu tiên nhìn thấy con voi, nó sợ đến xanh xám cả mặt, úp hai bàn tay lên mắt nhưng thi thoảng vẫn he hé ra để nhìn qua kẽ tay. Hình như trẻ con đứa nào cũng vậy.

- Ờ, không hẳn đâu. Mấy đứa con tôi xem tivi nhiều quá rồi nên con voi cũng chẳng có gì làm nó lạ lẫm nữa. Thời này tìm được một đứa trẻ khóc vì một con voi tai to kể cũng không dễ lắm đâu.

- Ừ thì dĩ nhiên. Nhưng để tôi kể tiếp. Ở màn cuối, người ta mang ra một con cá sấu hoa cà. À, đó là lần đầu hai đứa chúng tôi nghe thấy cái tên lạ lùng này. Còn bé em tôi vừa háo hức vừa sợ hãi. Người quản trò là một gã cao to hơn ba mươi tuổi, quấn quanh mình một miếng vải có hoa văn da hổ. Lúc đó tôi tưởng đó là da hổ thật và suốt mấy tháng tiếp theo, vẫn đinh ninh người này đã hạ một con hổ thật to, lột da nó và may làm áo mặc, như Võ Tòng trong truyện ấy. Tôi nuôi một niềm thán phục với anh ta trong cả quãng thời gian dài. Nhưng tôi lạc chuyện rồi, để tôi kể tiếp. Người quản trò bảo rằng cá sấu hoa cà rất linh thiêng, chỉ cần ném một ít tiền vào cái miệng đang há hốc ra của con cá sấu thì nhất định người ném sẽ gặp may mắn trong cuộc đời. Ô, người ta ùa đến hưởng ứng trò này đông lắm.

- Tôi biết trò này rồi. Bây giờ nó nhan nhản. Rạp xiếc nào chả có một hai con cá sấu hoa cà để diễn màn ném tiền đổi vận may này. Thu cũng bộn tiền chứ ít à.

- Vậy à, thời tôi còn bé, hình như đó là rạp xiếc đầu tiên diễn trò này. Cả hai đứa tôi đều khẩn khoản xin mẹ cho tiền để ném vào miệng cá sấu nhưng mẹ không cho. Mẹ bảo phí tiền và đó là trò vớ vẩn. Rồi mẹ dắt hai đứa về.

Tôi im lặng một lúc lâu, người lái xe hỏi:

- Rồi chuyện thế nào nữa?

- Thì hết rồi, chuyện hồi đó chỉ có thế thôi. Cả hai đứa tôi đều có cảm giác mình đã bỏ qua mất một cơ hội hiếm hoi trên đời để lấy được vận may cho chính đời mình.

- Ờ thì trẻ con mà, trẻ con hay tin vào những điều như thế.

Tôi cảm thấy đắng đắng trong miệng. Tôi lẩm bẩm một mình thật khẽ: “Không hẳn thế đâu, không hẳn là chỉ khi người ta trẻ con người ta mới nghĩ thế”.

Chúng tôi dừng xe trước một ngôi nhà chẳng lớn quá mà cũng chẳng nhỏ quá. Tôi trả tiền hậu hĩ cho người lái xe vì cuối cùng tôi cũng đã kể xong được chuyện của mình, dù là với một người lạ như anh ta. Tôi bấm chuông. Đã có hẹn bằng điện thoại từ trước nên người ta mở cửa mời tôi vào không hỏi han chi nhiều. Nhà cửa không tuềnh toàng, cũng không sang trọng. Vừa đủ để con người ta sống được. Chủ nhà là người tôi tìm kiếm từ rất lâu rồi. Người quản trò của trò cá sấu hoa cà thời tôi còn bé. Không còn tấm khoác da hổ nào nữa. Ông ta giờ hơn năm mươi tuổi, mặc bộ pyjama màu trắng sọc xanh trông thư thái và nhẹ nhàng. Ông lắng nghe tôi kể lại lần nữa câu chuyện ký ức của hai đứa bé xa xưa. Tôi chấm dứt câu chuyện của mình bằng một lời đề nghị rụt rè:

- Liệu tôi có thể tìm được con cá sấu hồi đó không và nếu... nếu bây giờ tôi cho tiền vào miệng nó, biết đâu may mắn sẽ đến, cái gì đó sẽ thay đổi cho cả hai anh em chúng tôi?

Và rồi người quản trò năm xưa mỉm cười, một nụ cười gần như là đau khổ:

- Khổ quá, khi đó tôi túng quá, không biết lấy gì để câu khách nên mới bày ra trò này, chứ con cá sấu có thần bí gì đâu. Từ sau khi tôi diễn trò này, các rạp khác đua nhau bắt chước, nên mới thành ra cái gọi là niềm tin vào quyền lực của con cá sấu. Tôi cũng chẳng ngờ là cậu còn tin vào trò này nữa. Cậu thấy đó, tôi bỏ nghề lâu rồi và con cá sấu đó, nếu không lầm thì nó đã được dọn ra bàn tiệc cho người ta ăn gần 20 năm trước rồi.

Tôi không nhớ mình đã đứng lên và đi về như thế nào. Tôi đi bộ ra đường cái. Ngõ phố ở đây rộng hơn nhưng những cái chụp đèn thì vẫn tròn xoe như con đom đóm phồng to. Tưởng chừng như nó sắp vỡ vụn ra và ánh sáng vàng đục này sẽ chảy tràn trề khắp mặt đất. Lúc đi ngang một ngọn đèn đường chập chờn, tự dưng tôi thấy hiện lên trong đầu mình câu hỏi cuối cùng của người em gái. Đó là một ngày trước khi nó bỏ đi. Nó ngồi chà cái sân gạch tàu đỏ, ngón tay dài và trắng chứ không còn mũm mĩm như lúc bé vẫn nhoe nhoét rêu xanh. Tôi đứng bên cạnh xách xô nước cho nó. Em gái tôi vân vê những mảng rêu trong tay và bất chợt hỏi:

- Anh à, nếu khi đó em được ném tiền vào miệng con cá sấu đó thì có lẽ bây giờ em đã rất hạnh phúc, có đúng thế không?

Tôi không trả lời được. Tôi không biết câu trả lời là gì. Và vì thế con bé ra đi vào sáng hôm sau. Và vì thế tôi đi tìm câu trả lời cho nó. Tìm mãi và tìm mãi một con cá sấu hoa cà ngậm hạnh phúc của nó trong cái miệng lởm chởm đầy răng.

Lần trước nữa, khi tôi đến tìm nó trong căn phòng nhỏ nằm sâu hút trong con đường âm u, tôi cũng lại hỏi:

- Sao không về hả em? Em ở đây có làm gì đâu?

Nó im lặng một lúc rồi trả lời:

- Chẳng để làm gì cả. Về thì cũng hệt như thế. Mẹ lúc nào cũng làm những điều có lý, nói những điều có lý. Mẹ sẽ nhìn em y như cách người ta chào đón con chiên đi lạc trong Thánh kinh. Một sự trở về đầy đạo đức và có lý. Em không muốn về để trông thấy những điều có lý nữa. Nó vượt quá sự chịu đựng của em.

Mẹ, mẹ bao giờ cũng đúng. Mẹ biết mọi thứ. Mẹ biết khi rêu mọc thì sàn gạch tàu rất trơn và chúng tôi vẫn phải cách tháng đi chà sân một lần. Mẹ biết ngay từ đâu rằng tiền ném vào miệng con cá sấu chỉ là một trò phù phiếm. Mẹ, mẹ biết tất cả. Lúc nào mẹ cũng có lý. Và rồi, em gái tôi ra đi vào một buổi sáng. Mẹ vẫn sẽ bình tâm ngồi chờ ở nhà vì mẹ biết nó chẳng có lý do gì để ra đi, mẹ biết rồi nhất định em tôi sẽ trở về. Đó là chuyện rất logic.

Ừ, rồi buổi chiều, chiều chiếu hắt nắng vào hai bàn chân em gái nhỏ, làm tôi tưởng như dưới nắng là hai cánh sen úp xuống, ngả màu, chuyển sắc và mỏi mệt, tôi lại sẽ đến ngõ phố hẹp, đi xuyên qua bóng tối, bước dưới dải đường trời xanh lật ngược trên cao, leo lên từng bậc cầu thang chật hẹp cọt kẹt, đến phòng em tôi để hỏi:

- Sao không về hả em? Em ở đây làm gì?

Và rồi, tôi biết, biết rất rõ rằng con bé sẽ im lặng một lúc mới trả lời thật khẽ:

- Ở lại đây để xem rêu mọc. Mỗi ngày mọc một ít.
Read More

Monday, 7 September 2015

Praha – Chỉ dẫn phác họa giản lược

Bài đăng trên Harper Bazaar Vietnam số 10/2014 với tên "Dấu trầm tích ở Praha"

photo : Topwall

Có những nơi chốn nhân lúc dạo chơi nhân gian, bỗng người ta muốn dừng bước. Nhưng Praha chưa bao giờ là một địa điểm để bất chợt ghé chân.  Như một vài thành phố khác: Paris, Venice hay New York, trước khi chạm mặt nơi chốn hữu hình, người ta đã có sẵn những mảnh ghép hữu tình của nơi chốn ấy.
Người mê đọc sách sẽ thốt lên khe khẽ : “Thành phố của Kafka, đất nước của Kundera.”
Người mê nhạc cổ điển lại nghe trong đầu mình vọng lại giai điệu những bản nhạc của Dvorak và Smectana.
Người ưa những câu chuyện lịch sử hẳn sẽ gật gù nhắc lại về Mùa Xuân năm 68.  


Chỉ dẫn phác họa dành cho những ngọn tháp
Tôi đến Praha một mình, khi đợt tuyết cuối mùa vừa tan. Bầu trời thấp và nặng. Những mảng tường vẫn còn xám, những bức tượng đồng vẫn còn xanh và những mái ngói vẫn còn đỏ. Thành phố rẽ ra làm hai ngả bởi dòng Vltava nước xiết. Bên này là quận Malá Strana nằm dưới chân lâu đài, bên kia là quận Staré Město với quảng trường cổ. Và lên xuống đây đó, vắt dọc rồi lại rẽ ngang là những chiếc tàu điện nhìn cũ kỹ xa xưa, như từ ký ức chậm rãi lăn về…



Để dễ hình dung về Praha, hãy nghĩ về những ngọn tháp, bởi người ta nói đây là thành phố của hơn một trăm ngọn tháp. Tôi bắt đầu từ phía Staré Město. Như rất nhiều du khách khác, tôi đi dọc theo bờ sông và dừng lại ở cầu Charles. Một vài quyển sách du lịch gọi đây là Cầu Tình, nhưng thật ra ở châu Âu, những chiếc cầu trĩu nặng ống khóa khắc tên tình nhân không phải là điều gì xa lạ nữa. Cầu Tình có lẽ là một cái tên thuộc về tâm tưởng nhiều hơn, bởi dòng sông của những kẻ yêu nhau kia rõ ràng là đã nhập lưu vào sông Seine, sông Tiber và sông Vltava… Đứng ở phía bên này của cầu Charles, tôi chưa vội hòa mình vào dòng người lững thững chờ được xoa tay vào bức tượng thánh Nepomuk cùng con chó trứ danh của ông, để cầu vận may và mong có ngày trở lại Praha. Tôi cũng chưa muốn vội băng qua những người chơi nhạc rong, những họa sỹ truyền thần đang ngồi đợi khách ngay trên cầu. Ở đầu này của cầu Charles, có một ngọn tháp nhỏ. Tôi leo lên chiêm ngưỡng thành phố từ trên cao. Dưới ánh nắng chiều rất nhạt, Praha hiện lên với đầy đủ những chi tiết để hình dung về một thành phố châu Âu điển hình: những mái nhà với đầu hồi áp mái, ngói đỏ cam ấm áp, dòng sông đang đổ sang màu xám lạnh, lâu đài phía bên kia nằm trên cao, những chóp tháp mơ hồ không rõ là rất gần hay rất xa, khiến lòng người bất giác như nhìn thấy lâu đài của Kafka.


Tôi vẫn chưa hết phải lòng với những ngọn tháp, vì thế tôi rảo bước đến với Praský hrad, tòa lâu đài từng một thời là biểu tượng của đế chế Bohemia. Những chóp xanh của nhà thờ Thánh Vitus nơi đây vươn thẳng lên bầu trời Praha u uẩn. Sự hòa trộn giữa kiến trúc gothique cầu kỳ và buổi sáng sớm ẩm ướt sau đợt tuyết tan khiến cho cảm giác về thời gian của tôi như phủ thêm lớp sương mờ. Con đường nhỏ bọc phía sau lâu đài dẫn đến một góc phố với những căn nhà xinh xẻo đủ màu sắc, giờ là nơi bán những món lưu niệm nho nhỏ. Người ta bảo Kafka từng có một thời sống ở đây.

Và lẽ nhiên, du khách nào cũng thừa biết mình sẽ lại quay trở về Staré Město, nơi quảng trường cổ để đứng chờ chiếc đồng hồ thiên văn trứ danh đổ chuông. Bức tranh về Praha nơi đây sẽ còn được phác họa thêm hai  chóp tháp màu đen gothique của nhà thờ Church for Our lady before Tyn và lại thêm một chóp tháp Thánh Nicholas kiểu baroque. Rồi lại cũng không thể bỏ qua kiến trúc hiện đại của tòa nhà nhảy múa Fred and Ginger. Tôi cảm thấy trang giấy của mình dường như không còn chỗ trống nào nữa.

Và buổi tối, chập chờn trong giấc ngủ của tôi là hình ảnh vở nhạc kịch Don Giovani của Mozart, diễn bằng rối gỗ, một cốc trà nóng ở quán café làm từ những toa tàu điện ngay quảng trường Vaclave, một câu chuyện về những cuộc đàm đạo của Einstein, Max Brod và Kafka trong salon của Bertha Fanta… Văng vẳng đâu đó từ quảng trường cổ vọng lại tiếng búa đập vào đe của một người thợ rèn biểu diễn lại công việc của tổ tiên mình từ thời trung cổ, xen lẫn với tiếng cười nói của một đoàn diễu hành mặc trang phục như từ thế kỷ XVII, XVIII… Quá nhiều chi tiết và nhân vật. Có lẽ như thế đã đầy đủ cho những người muốn nắm bắt Praha trong một thoáng…

 

Chỉ dẫn giản lược dành cho những dấu chân một mình

Tôi nghĩ một số người lữ hành cũng có thói quen giống tôi: sau khi phủ kín trang phác họa và nhật ký hành trình với chi chít những điểm tham quan, ngồn ngộn những cửa hàng, nhà cửa…, tôi chú mục vào những nơi dành riêng cho mình, để chuyến du hành thật sự là của tôi.
Vì thế, tôi tìm đến một cửa hàng sách cũ dưới chân lâu đài, tên là Shakespeare. Người bán sách không nói năng chi, chỉ mỉm cười. Những giá sách đầy ắp ốp sát dọc tường rồi bỗng dưng ở tận sâu phía cuối cửa hàng, một ô cửa sổ mở ra, một chiếc ghế bành yên ả nằm đó như chờ đợi. Tôi có cảm giác tưởng như mình có thể ngồi đây mãi mãi.

Sáng ngày hôm sau tôi đến bảo tàng của Kafka, tọa lạc bên bờ sông Vltava. Tòa nhà nhỏ bé và nhìn giản dị, phía trước chỉ có hai chữ K như trang sách đang hé mở, người ta không thể đoán trước được điều gì đang chờ đợi mình bên trong. Nơi chốn dành để tưởng nhớ về nhà văn này cũng đậm chất u uẩn như những trang viết của ông. Những trang bản thảo, những bức ảnh, những thư từ, những câu chuyện và những đoạn phim nằm trong dòng chảy của thứ âm nhạc rung lên nhè nhẹ mà day dứt dưới ánh sáng nhạt và lặng lẽ, như buổi sáng mà Samsa thức giấc và thấy mình đã hóa thân thành con bọ. Bước ra khỏi bảo tàng nhỏ bé này, phóng mắt nhìn ra dòng sông đang cuộn nước bên cạnh, những con vịt nhỏ lấm lem bận rộn bên bờ cát ở triền sông và những con người đang hân hoan hội hè trên cầu Charles ngay đó, tôi không tránh được cảm giác lòng có gì đó như dang dở, không cách chi kể tường tận được. Kafka hẳn cũng biết Praha và bầu trời xám này đã thấm vào những giọt mực trong trang viết của ông ra sao…


Và cũng bởi bước chân bỗng trở nên quá nặng, tôi quyết định đi đến một nơi hiếm khi được liệt kê trong những quyển cẩm nang du lịch bỏ túi: công viên Divoka Sarka. Tôi muốn được thiên nhiên vỗ về đôi chút. Góc xanh nho nhỏ này nằm biệt lập hẳn khỏi thành phố. Nơi đây có những ngọn đồi đá, những lối đi quanh co khúc khuỷu và những thác nước cùng hồ nước trong veo. Màu xanh thưa thớt của lá cây đang chớm nhú xen lẫn với  màu  nâu của đất, cùng cái lạnh se se làm dịu lại những đường nét đầy hình khối rườm rà của Praha. Một ít người dân chậm rãi đi dạo. Một cô giáo đưa bầy trẻ nhỏ lẫm chẫm chơi đùa trên bãi cỏ. Khi đó tôi ngồi một mình, lòng nhẹ như một đám mây trôi và thoáng nghĩ, đây có lẽ là một trong những buổi sáng tôi sẽ không thể quên được trong đời mình, và nơi đây sẽ là một trong những nơi tôi nghĩ đến khi nhớ về châu Âu, dẫu cho không có một sự kiện hay biến cố chi xảy ra.

Công viên Divoka Sarka

Khi rời Praha, tôi không diễn tả được chính xác cảm xúc của mình là gì. Mãi đến sau đó vài tháng, đột nhiên mọi ký ức trở nên trong vắt như pha lê Bohemia. Lúc ấy tôi mới hiểu ra rằng Praha quá đẹp, khiến cho tôi bị đông cứng, không thể diễn đạt được. Như khi gặp một người đàn bà có ánh  nhìn vừa u uẩn, vừa phức tạp, người ta không thể nói rõ yêu ghét. Người ta chỉ biết rằng, nàng là người đàn bà đẹp.


Cái đó người ta gọi là "yêu người vô ngôn" ?

M.V



Read More