Tuesday, 15 December 2015

Vẩn vơ ở phòng lấy thị thực



1. Trưa hôm qua mình đi phỏng vấn visa nước A nọ. Buổi sáng trước khi đi phỏng vấn mới phát hiện là mình đã thủ tiêu tờ hóa đơn đóng tiền lệ phí. Ảnh thì chưa rửa cho đúng cỡ. Thật là xấc bấc xang bang. Đến lúc đến lãnh sự, tim mình vẫn còn đập bình bịch. Hóa ra ảnh không hỏi, hóa đơn cũng không hỏi đến.

2. Phòng lãnh sự buổi đầu giờ trưa, hàng người đi rất im lặng, phần nhiều là những gương mặt hơi căng thẳng. Đột nhiên nhìn những ô phỏng vấn, rồi nhìn lên trần nhà, rồi lại nhìn ra phía ngoài trời, mình có cảm giác như mình đang trôi nổi đến một xứ sở nào đó ngoài đảo. Một xứ sở biệt lập, nhà cửa xây dựng phần nhiều vì mục đích tiện dụng hơn là để đẹp. 

3. Khi xếp hàng chờ đến lượt, mình nhìn ra bên ngoài, phía góc tường. Bóng nắng hắt xuống tường
từ tán cây trên đường Lê Duẩn, tạo thành những đốm tròn nho nhỏ, lay động giữa một buổi trưa hừng hực nóng. Đột nhiên mình nghĩ, những ai còn có thể thong thả ngắm nhìn những bóng nắng nho nhỏ này, dù họ ở đâu, họ là ai, họ làm gì, hẳn họ phải là một con người hạnh phúc. Vì họ còn tháng ngày và họ còn sống ở trong giây phút hiện tại.

4. Nhân viên lãnh sự phỏng vấn ở ô mình đứng đợi đã từ chối một case ngay trước mình. Khi cô ấy vẫy mình tiến lên, tim mình vẫn tiếp tục đập loạn xa. Thế rồi... cô ấy bỗng hét lên một tiếng, nhảy ra khỏi ô cửa. Hóa ra có một con bướm mắc kẹt ở ngay khay lấy hồ sơ. Anh đồng nghiệp của cô ấy ở ô kế bên nhảy sang, lấy một tờ khăn giấy, định bóp chết nó. Mình thì thầm rất nhỏ: "Đừng giết nó!". Vậy mà anh ấy nghe thấy, anh ngước lên nhìn mình và hỏi: "Em bảo đừng giết nó hả?", mình gật. Thế là anh ấy, mình và một nhân viên hỗ trợ người Việt đứng ngoài ô ra sức lùa con bướm bay ra khỏi cái khay.

Sau khi lùa được con bướm bay ra xong thì mình được cấp visa.

5. Và mình biết ở bên kia bờ Thái Bình Dương, có một vùng đất mà mình sẽ đặt chân đến, một ngày rất gần.
Read More

Tuesday, 1 December 2015

Roses in December


#I-still-shoot-film

An old analog camera - a spotmatic F from Pentax




And here are these photo from this camera




A deck of tarot. Art of Life. My favourite card, my favourite quote: Six of cups.

And a new crush.

Life is good :)


Read More

Monday, 23 November 2015

Una scatola piena di oscurità

Per il barone 

Nel mese di luglio, ho avvolto tutte le lettere e libri, metterli in una scatola, e l'ho mandata a una vecchia amica. Un giorno, in futuro, lo riceverete.
Oggi ho letto questa poesia di Mari Oliver. E 'davvero una scatola di oscurità. E abbiamo bisogno di più di una vita per capirlo. O forse non potremo mai capire.

Qualcuno che amavo una volta mi regalò una scatola piena di oscurità. 
Ci vollero degli anni per capire che questo, anche, era un dono

“Someone I loved once gave me a box full of darkness. 
It took me years to understand that this too, was a gift.”


Ma grazie per questo dono doloroso e prezioso .

Ti perdono.

E perché rerdonare te stesso può essere molto più difficile che perdonare qualcun altro,  io perdonerò me stesso.

Read More

Saturday, 7 November 2015

Haiku



For me leaving
For you staying
Two autumns

-Masaoka Shiki-
Read More

Thursday, 29 October 2015

Chuyện trò chuyện


By Birmingham


Phần lớn truyện của Andersen tôi đọc lúc nằm trên giường bệnh. Năm lớp hai, tôi trải qua một cuộc phẫu thuật nhỏ và phải nằm yên một quãng thời gian. Mẹ mang đến cho tôi những cuốn truyện Andersen khổ nhỏ, gồm 5 tập, mỗi cuốn có màu bìa khác nhau, mà đến tận bây giờ tôi vẫn nhớ tập một bìa xanh lá, tập hai bìa đỏ... Tôi đọc để giải khuây khi nằm trong bệnh viện.

Sáng nay tôi nhớ đến một đoạn mà Andersen viết trong chương 1 của truyện Nữ hoàng băng giá (The Ice Maiden)


This was something for Rudy to know, but he learnt more from other sources, particularly from the domestic animals who belonged to the house. One was a large dog, called Ajola, which had belonged to his father; and the other was a tom-cat. This cat stood very high in Rudy’s favor, for he had taught him to climb.
“Come out on the roof with me,” said the cat; and Rudy quite understood him, for the language of fowls, ducks, cats, and dogs, is as easily understood by a young child as his own native tongue. But it must be at the age when grandfather’s stick becomes a neighing horse, with head, legs, and tail. Some children retain these ideas later than others, and they are considered backwards and childish for their age. People say so; but is it so?


Những năm còn bé, tôi đọc bản dịch của Nguyễn Văn Hải, Vũ Minh Toàn. Tôi vẫn nhớ chất giọng kể đó, đầy trìu mến, hài hước.

Nhưng trí tuệ em lại càng minh mẫn nhờ sự giao du với những con vật sống trong gian nhà gỗ. Đó là Ajola, con chó lớn của cha em và một con mèo mà Rudy rất yêu quý. Chính con mèo này đã dạy em leo trèo.

Một hôm mèo bảo: “Này, đi lên mái nhà với tớ đi”, em nghe hiểu ngay. Khi người ta còn bé và nói chưa sõi, người ta rất hiểu tiếng nói của gà, vịt, chó và mèo. Chúng cũng nói rành rọt như cha mẹ nói với ta. Khi ta lấy cây gậy của ông làm ngựa cưỡi chơi thì ta cũng nghe thấy nó hí và trông thấy như nó có cả đầu, cả chân và cả đuôi. Nhưng một khi ta lớn lên thì tính năng đó mất đi. Tuy nhiên, cũng có nhiều em giữ được tính năng đó lâu hơn các em khác, người ta cho rằng chúng là những đứa đần độn hạng nặng. Nhưng, người đời thật là lắm chuyện! 

Lúc còn là trẻ con thì nói chuyện được với ông bà bố mẹ, bạn bè, cái cây trong vườn, con chó, con mèo, búp bê, bông hoa, cái chổi quét nhà. Lớn lên thì chỉ còn có thể nói chuyện với con người. Cho nên càng lớn, con người càng thấy cô đơn hơn trong thế giới này.
Read More

Saturday, 24 October 2015

Em đẩy im lặng sang một bên...



Goodbye

You turn in silence aside
your face to the night.

In the places where the night grows darkest
lamps crowd together.

They are always there together;
we will meet again, sooner or later.

Goodbye now
so that we see each other again.

translated by Gordon T. Osing and De-An Wu Swihart



Không rõ cơn cớ gì mà giữa tọa đàm lại nhớ ra một bài thơ của Cố Thành. Lúc nào cũng đầy ám ảnh và làm hơi thở trở nên dài sõng sượt.

...
Thưa rằng ly biệt mai sau
Là trùng ngộ giữa hương màu Nguyên Xuân
Read More

Ghi chép vụn vặt giữa những chặng dừng chân (2)

Vệt nắng ở một ngôi nhà vùng Iberia


Ở sân bay Vnukovo trong rất nhiều giờ, nhìn mặt trời lặn rồi mọc, tôi nhớ trong đầu đoạn thứ bảy của bài thơ này, bài thơ của anh D. Những cái tôi va chạm nhau chan chát. Ai cũng muốn được là chính mình, ai cũng muốn được chấp nhận, được thừa nhận con người thật của mình, bản chất của mình. 

Điều này gợi tôi nhớ một cảnh trong quyển Sự bất tử, ở phần mở đầu, trong bể tắm công cộng, Những cái tôi ồn ào, ầm ĩ. Những cái tôi đầy tì vết, mệt mỏi, nhàu nhĩ. Những cái tôi khẩn thiết yêu cầu được chấp nhận với tình trạng đầy móng vuốt. Ai cũng chỉ mong được là mình.

Nhưng điều đó rồi có thật sự cần thiết nữa không? Cái việc đấu tranh để được là chính mình đó? 
Và mình là cái gì? Có thật sự có một cái tôi riêng biệt, tách rời, dễ nhận biết đến vậy? Và nếu việc là chính mình làm đau người khác thì có thật sự cần là chính mình?

Cảm giác của tôi giống với mỗi lần tôi dùng bút vẽ hình mình trên giấy. Mỗi khi vẽ xong đều thấy vô cùng cô đơn, vì mình đã trở thành một hình dạng khu biệt, có biên giới, hình thù. Mình không còn tan chảy, nằm yên, tự do, vô hình hòa làm một với thớ giấy trắng.




Bảy biến tấu trên một chủ đề của Mạnh Hạo Nhiên

Tặng Phan Hải Bằng

1.
Giấc xuân không biết sáng
Mở mắt
Trời đã tối

2.
Cuộc đời ngắn ngủi đến nỗi chẳng có thời gian mà nhớ tới chính điều đó nữa
Đêm rồi ngày và nắng rồi mưa rồi gió
Rồi những cánh hoa rụng rơi
Tá lả
Nỗi buồn giết chết niềm vui
Nụ cười sinh hạ tiếng khóc
Vân vân
Vân vân
Mặt trời cũng phải thấy tủi, nhục
Vậy mà vài bông hoa tháng ba ở North Carolina chịu chơi
Đã bắt đầu nở

3.
Ngày đẹp vì mùa lạnh
Ngày đẹp vì mây xám
Ngày đẹp vì những sợi dây điện mảnh khảnh
Xuất hiện ngoài cửa sổ
Bất ngờ từ lâu lắm rồi
Chỉ là những sợi dây điện ai đó đã lặng lẽ mắc lên
Nối từ đầu này tới đầu kia
Rồi đầu kia nữa
Và nữa
Ngày đẹp vì những chuyến xe chạy vèo trên xa lộ
Thoáng ồn ào, khói, bụi
Thoáng xuất hiện trên võng mạc trong một vài giây
Không kịp đếm
Trên xe có bao nhiêu người
Ngày đẹp vì ngày đẹp

4.
Đêm qua trời mưa gió
Sáng ra trước nhà một cây thông gãy đổ làm đôi
Chim kêu nho nhỏ trong rừng
Không biết cây thông bao nhiêu tuổi
Không biết những con chim bao nhiêu tuổi
Dù biết cũng chẳng để làm gì

5.

6.
Mạnh Hạo Nhiên
Không biết
Thi sĩ có giống con chim kia

7.
Tu-huýt!
Tu-huýt!
Tu-huýt!
Chúng ta tự trao cho mình cái quyền ngợi khen, chê bai và tranh đoạt đủ thứ
…
Mà đéo biết
Từ khi biết
Mình là mình cho tới bây giờ
Đã làm
Rơi mấy cánh hoa

2008
Read More

Tuesday, 20 October 2015

Để tưởng nhớ một cây chanh


Lúc đó là buổi chiều tối. Mặt trời dần xuống, chỉ còn hắt nắng, hun lên ánh đỏ xiên qua những ô cửa. Hơi lạnh đã tỏa ra nhè nhẹ. Mùa này người ta chưa bật lò sưởi. Bạn đồng hành đã thiếp ngủ sau chuyến bay dài hơn một ngày. Tôi ngồi một mình ở chiếc ghế tựa ngoài hành lang. Khách sạn vắng tanh, không có một khách nào. Hành lang gỗ, tường trắng, cửa sổ, làm tôi nhớ đến bệnh viện. Và những chậu cây làm tôi nhớ về một cây chanh còi cọc ở xa. Sự lặng lẽ của buổi chiều, trí tưởng tượng cùng hồi ức cũ làm tôi ứa một giọt nước mắt. 


Read More

Tuesday, 13 October 2015

Happy continuation


Mình đang ở trong những ngày cuối cùng của những năm hai mươi. Một vài ngày nữa thôi.
Thanh xuân trong tất cả hơn mười lăm năm nhìn lại là một ngụm nước mát. Đôi mắt mình được nhìn thấy rất nhiều điều đẹp đẽ trên đời, trong sách và trong những con người. Đôi khi những điều quá đẹp làm mình ứa nước mắt. Cuộc đời hẳn là một điều rất mầu nhiệm.

Thầy và tăng thân đều không gọi đây là ngày sinh nhật, mà gọi là ngày tiếp nối. Là ngày mình biết sự sống của mình được tiếp nối, với tổ tiên, gia đình, với thầy, với những con người, cảnh vật, đất đai, với những điều đẹp đẽ còn nhiều khôn xiết trên đời, để biết rằng mình không cô độc trên cuộc đời này, cuộc hành trình này. 

Nếu vì một lý do nào đó, mình không thể gặp nhau trực tiếp để cùng mừng ngày tiếp nối này, hãy gửi cho mình một bức ảnh về bất kỳ một điều chi đẹp đẽ mà các anh/chị/bạn/em nhìn thấy trong ngày 17/10 ấy. Những bức ảnh có thể gửi vào email cho mình hoặc upload vào link google drive này.

Cảm ơn mọi người cho mình nhìn thấy những điều đẹp đẽ trên cuộc đời này qua đôi mắt của mọi người.

Read More

Monday, 12 October 2015

Bruges la morte


Thill, Bruxelles Série Bruges luxe - NELS



[bài viết cho readingcafe từ 2010]

Bruges, thành phố Tây Nam Bỉ, Venice của phương Bắc, là nơi diễn ra câu chuyện này.

Một thuở nào đó, Bruges nằm ngay sát mặt biển,nhưng rồi biển rút đi để lại một thành phố cô đơn. Truyện mở đầu như vậy, dưới cái nhìn hoàn toàn chủ quan của nhân vật chính Hugues Viane. Anh ba mươi tuổi, góa vợ đã năm năm, chuyển đến sống ở Bruges cũng đã tròn năm năm. Mỗi tối, anh âm thầm đi dạo lặng lẽ trên những con đường của Bruges. Ngay từng chương mở đầu, tôi có cảm giác như Bruges hiện ra như một bức ảnh mà theo từng bước chân, từng lời miêu tả của Hugues, nó bạc màu đi từng chút một, bụi phủ lên từng chút một và cuối cùng hoàn toàn chết lặng, không một bóng người. Tất cả chỉ là một ấn tượng buồn và xám, hệt như Hugues đã nhận xét, về Bruges, về chính anh.

Đôi mắt của một người thống khổ vì nỗi đau. Bruges là quan tài thủy tinh phong bọc thi thể người vợ quá cố, để mỗi nơi Hugues đều nhìn thấy hình ảnh của nàng, mỗi chi tiết đường nét đều làm anh liên tưởng đến cảm giác đau lòng nơi mình. Hugues cảm thấy yên ủi bởi anh có Bruges. Biển bỏ Bruges cũng như nàng đã bỏ anh. Khi người ta đau, người ta sung sướng khi biết bên cạnh có kẻ cùng cảnh ngộ.

Nhưng Rodenbach không viết câu truyện này để kể về một cảm xúc bình lặng như thế.

Một ngày kia, ngay trên thi thể chết chóc của Bruges, Huges nhìn thấy một người phụ nữ. Số phận trêu ngươi anh. Người đàn bà này từng nhịp thở, từng thói quen hất tóc đến nhịp bước chân đi đều hệt như người vợ quá cố. Anh điên dại đi theo nàng, bắt chuyện làm quen, tán tỉnh nàng. Nàng là Jane, một nữ diễn viên sân khấu. Hugues hạnh phúc, hân hoan, anh đã tìm lại được tình yêu, anh đã sống lại. Bruges và anh nay đã là hai thực thể tách rời.

Nhưng vẫn lại là Rodenbach không muốn viết một câu chuyện hạnh phúc…

Tôi thích một đoạn văn, trong đó, Hugues bộ lộ suy tư của mình về cái cũ và cái mới. Anh không vì Jane - người mới mà quên được vợ anh – nỗi đau cũ. Con người ta mâu thuẫn bởi vừa muốn đau đáu những niềm xưa cũ lại vừa không thể khước từ những điều mới. Bằng cách cố gắng tìm nơi Jane tất cả các đặc điểm của người xưa, Hugues cảm thấy đó chính là phương thức để cả cũ và mới hoà trộn không chút mâu thuẫn. Một ngày nọ, Hugues đem chiếc váy của người vợ cũ đến cho Jane và yêu cầu nàng mặc nó. Hugues muốn nhìn thấy một sự toàn vẹn của ký ức. Và kể từ giây phút Jane mặc chiếc váy đó, bước lên bàn và nhảy múa như Salome, truyện đã rẽ sang một hướng khác…

Ngay lời giới thiệu truyện Rodenbach đã viết rằng nhân vật quan trọng nhất của quyển sách này không phải là Hugues, Jane hay thậm chí người vợ quá cố mà là Bruges, thành phố chết. Bruges, như cảm nhận của tôi là hiện thân của một người phụ nữ, bởi như đã có một lần, Rodenbach viết : những thành phố cũng như những người phụ nữ, có thời khắc huy hoàng và có thời khắc tàn tạ. Hugues xoay vòng cảm xúc của mình xung quanh những người phụ nữ của đời anh. Tất cả đều muốn nắm lấy vận mệnh anh, ngay cả Bruges.

Tôi sẽ không kể điều gì đã xảy ra cho Jane, cho Hugues, cho Bruges… Một buổi tối nào đó, hãy hạ thấp ánh đèn, ngồi yên lặng và chìm vào không khí của Bruges để nhìn bằng cái nhìn của Hugues.

Bruges, trong thực tế,khi tôi xem những thước phim tư liệu về nó, không hề xám và buồn như lời văn của Rodenbach. Nó êm ái, hiền hòa với những con kênh nhỏ và những nếp nhà giản dị. Chỉ có điều không rõ vì sao, khi đoạn phim quay đến ngôi nhà thờ, tôi ngỡ như mình nghe thấy tiếng chuông đổ vọng lại từ trang sách cuối cùng, khi Hugues cúi xuống, chìm vào bóng tối.
Read More

Friday, 9 October 2015

Ghi chép vụn vặt giữa những chặng dừng chân




1. Người Colchis giàu có, họ sở hữu những mỏ vàng khổng lồ của vùng Caucasus. Toàn bộ những cổ vật mà sau này người ta đào được đều là đồ tùy táng bằng vàng, những thứ vòng xoắn trôn ốc, cúc áo, huy hiệu, hoa tai, băng cài đầu. Mức độ tinh xảo đến khó tin, nhất là vào thế kỷ 3-4 trước Công nguyên. 

Trong một bộ tùy táng, người ta tìm thấy những miếng vàng dát mỏng, gọi là miếng che miệng cho người chết. Không rõ vì sao. Người Hy lạp có thói quen đặt một đồng tiền vào miệng người chết, gọi là phí qua đò cho lão chèo đò sông Charon. Còn người Colchis vì sao dùng miếng che miệng? Phải chăng vì họ sợ linh hồn trôi ra từ miệng? Hay họ muốn yên tâm rằng mọi lời nói, mọi ngôn từ đều sẽ câm lặng vĩnh viễn từ nay?

Cũng trong một bộ tùy táng của một người phụ nữ, người ta tìm thấy một ít vòng tay rất bé, chúng là những món đồ mà người đã khuất từng dùng lúc còn nhỏ. Họ chôn theo ấu thơ của mình. Hẳn ấu thơ ấy phải ngọt ngào đến mức khi đã lớn, đã già đi, đã chết, người ta vẫn không nỡ quên được. Lần đầu tiên trong đời, tôi thực sự tò mò đến độ muốn tọc mạch nhìn thử, nếm thử xem ấu thơ của người khác ngọt đến độ nào... Hay là một sự day dứt không quên?

2.  Bảo tàng Moma Tbilisi có phần trưng bày về các tác phẩm của Zurab Tsereteli. Lúc còn sống, hẳn ông là một tay lừng lẫy, bá vai bá cổ với bao nhiêu chính khách. Tôi không biết ông là ai. Những màu sắc của ông bừng bừng như muốn nhảy ra khỏi tranh. Khi đi một vòng, tôi phát hiện ra một điều. Thật ra tôi thích những mối quan hệ giống như đi ngắm tranh. Không thể đến quá gần. Càng đến gần càng chả thấy gì ngoài những nhát cọ và những vệt màu loang. Không có ý nghĩa gì cả. Lại càng không thể đưa vào máy soi để thấy dưới lớp toan này, lớp màu này là chồng chéo bao nhiêu lớp màu, bao nhiêu phác thảo. Người ta không yêu một bức tranh vì những điều đó. Phải đứng xa, nhiều khi là rất xa, mới có thể thấy được hóa ra cái vệt màu nhòe nhoẹt vô nghĩa lý kia là một vệt nắng, một đóa hoa hay một bóng cây đang nghiêng nghiêng. Đừng đến gần đời nhau quá, đừng phân tích, phán xét và mổ xẻ nhau. Mọi thứ đẹp khi có khoảng cách. Tôi dễ bất an và có xu hướng bỏ chạy mỗi khi thấy có ai đến quá gần.


3. Một trong những phần tôi yêu thích nhất ở các chuyến đi xa đó là những người tôi gặp trong hành trình của mình. Một vài cuộc trò chuyện dưới hiên nhà, trên chuyến bus, ở đâu đó trong tiệm cafe. Họ vô hại. Họ thú vị. Họ không can dự vào đời tôi. Không trách nhiệm, không mắc mỏ neo vào đời nhau. Không cảm thấy tổn thương hay mếch lòng vì bất kỳ hành động nào. Dễ quên nếu buồn bực, dễ cho qua nếu gặp hành động vô ý. Lại dễ thấy vui vì những điều chia sẻ thú vị. Không ai dốc nỗi buồn ra với người lạ trong cuộc trò chuyện vài mươi phút. Vừa đủ biết nhau gói gọn vừa phải như chút gia vị làm cho đời sống thêm mặn mòi. Rồi đi.

Read More

Wednesday, 7 October 2015

Stories about Iberia and Colchis



















Read More

Saturday, 3 October 2015

Còn nguyên sơ mộng sau tà áo xanh



Tấm ảnh này tôi chụp hai người bạn vào một buổi đi dạo ở Basel chừng 6 mùa xuân trước. Nó là một tấm ảnh lấy nét không hoàn hảo và một số chỗ cháy sáng. Thế nhưng, lần nào nhìn ngắm lại, cũng có cảm giác rất rõ rệt về một thứ gọi là "thanh xuân". Bất giác nhớ đến câu:

Em níu lấy cành dâu 
Che giấu mộng ban đầu.

Chúng ta rồi đều không còn có thể ngủ trên chiếc giường giá 6 euro một đêm, đi chợ chỉ mua toàn bắp cải và trứng, nhảy tàu chuyến cuối và đứng suốt 4 tiếng đồng hồ, lọng ngọng nói những câu tiếng Pháp không đầu đuôi, cũng chẳng thể bỏ cả bữa sáng lẫn bữa trưa để nằm trên bãi cỏ, ngắm dòng sông trôi. Chúng ta ai cũng đều lớn lên, già đi, trở nên cáu bẳn vì công việc nhọc nhằn, chuyện tiền mua nhà, chuyện cho con cái đi học, tranh cãi với người thân, bạn bè, đứt nối với những mối dây liên lạc cũ. Có điều thanh xuân là một thứ men say. Càng để lâu, nhấp lại càng thấy ngất ngây hơn năm xưa. 

Vì thế một sáng nào đó trong đời, hãy tạm quên hết mưu sinh cùng tới lui nhọc nhằn, tìm một bờ cỏ, một dòng sông, nằm xuống tưởng niệm thanh xuân. 
Read More

Thursday, 1 October 2015

Istanbul của những con mọt sách


(trích từ topic đang viết bên phuot.vn "Thổ Nhĩ Kỳ - Em uống một ly trà táo nhé")


Chúng tôi ghé vào một tiệm sách tên là Galeri Kayseri nằm ngay gần bến tram Sultanahmet để tìm bản đồ. Thay vì thế, chúng tôi lại tìm được cuộc trò chuyện thú vị với một người bán sách đeo kính râm, ngồi sưởi nắng ngay trên con đường chính của khu Sultanahmet.

Trước chuyến đi chừng 1-2 tháng, trên NY Times tôi đọc được một bài viết về cuộc du hành cùng Orhan Pamuk và ấn tượng của ông ấy với Istanbul.

Orhan Pamuk không dễ đọc, tôi chả bao giờ đọc xong quyển Tên tôi là đỏ, quyển Pháo đài trắng càng không. Cuốn Istanbul thì dễ chịu hơn. Tạng kể chuyện của ông ấy không hợp với tôi. Nhưng bài báo trên NY Times có một giọng văn và không khí như mờ mờ ảo ảo, bàng bạc kiểu một chiều trên Bophorus, đại loại là một kiểu giọng văn dễ nhuốm người đọc chìm vào bầu không khí mơ màng tưởng tượng. Quan trọng nhất là ở cuối bài báo, tôi thấy họ ghi chú về Bảo tàng của sự thơ ngây. Người đọc sách có nhiều loại. Người du hành cũng có nhiều loại. Người thích đọc sách và thích du hành kiểu như tôi thì lại thích những ý tưởng có vẻ fantasy. Mỗi khi đi đâu đó xa nhà mà thấy một tiệm sách thì tôi cứ hay có cảm giác như là về lại được nơi thân quen.

Tôi không kìm được sự tò mò khoái chí khi bắt được một bác bán sách ngay giữa Istanbul. Tiệm của bác không to lắm, nhưng có mặt bằng nằm ở cả bên này và bên kia đường. Chủ yếu là sách về văn hóa, du lịch và cũng kha khá sách văn học. Khi tôi hỏi có phải đúng thật là đằng sau mỗi cuốn The museum of innocence của Pamuk đều có in một chiếc vé vào cửa bảo tàng của chính cuốn tiểu thuyết này không, bác bán sách Ali tinh quái nheo mắt nhìn tôi vào bảo: “Đúng thật là thế, nhưng cô thích sưu tầm chiếc vé thì hãy đến và mua vé vào cửa, đừng mua quyển sách. Còn về cá nhân tôi, Pamuk không phải là nhà văn yêu thích của tôi.” Và bác đưa cho tôi một quyển sách khác, Portrait of a Turkish family. “Hãy thử với thứ mà cô chưa từng biết. Đừng cố tìm lại những gì cô thấy quen thuộc. Cô sẽ mất đi cuộc phiêu lưu của mình.” Cuối cùng, bác chốt lại rằng nếu muốn nghe những câu chuyện, hãy đến hỏi những người bán hàng ở Thổ Nhĩ Kỳ, ở đây họ là những tay kể chuyện tài ba bậc nhất.

Nói thêm một chút về những quyển sách có thể đọc trước khi đi Thổ, hoặc mang theo khi đi Thổ, tôi nghĩ cuốn Istanbul của Pamuk thật ra không phải là ý tệ. Tôi lượm lặt được từ đó một ít kiến thức về lịch sử, về cảnh sắc, về xung đột văn hóa của người Hy lạp và người Hồi giáo (mà khi đến ngắn sự đan xen kiến trúc của vùng Cappadocia thì sẽ hiểu), về những con chó hoang trong thành phố bị đưa ra đảo vắng.... Ngoài ra, trong một buổi sáng nọ, thức dậy ở Ugrup và khám phá những quyển sách trên kệ của khách sạn (bạn biết đó, đó là nơi chốn mà lắm khi bạn tìm thấy những điều rất bất ngờ), tôi gặp quyển Bright Sun, Strong Tea của Tom Brosnahan. Đây là một quyển sách khá duyên của một người thật sự "nghiện" đất Thổ. Những trải nghiệm và lối dẫn dắt của tác giả đem lại cảm giác giống như có ai đó rủ rỉ kể mình nghe về chỗ này chỗ kia trên những cung đường.

Nói chung những quyển sách kiểu như là viên gạch lót đường cho khách du lịch. Chúng tạo ra một thứ "văn cảnh", làm cho khung cảnh và người du hành có chuyện này chuyện kia mà ồ à tỉ tê với nhau.

Thế là tôi cầm lấy cuốn Chân dung một gia đình Thổ. Chúng tôi trò chuyện một lúc, bác chỉ đường cho chúng tôi đi đến nơi này, nơi kia. Ngày hôm sau, chúng tôi lần mò tìm đường đi đến những địa điểm tham quan ở Sultanahmet. Vì cửa hàng của bác nằm ngay trên trục đường chính, mà lúc đi ngang, bọn tôi thấy bác đang ngồi sưởi nắng cùng con mèo già, nên bọn tôi ghé vào chào bác. Bác nheo nheo mắt cười, hỏi bọn tôi tính ăn trưa ở đâu. Bọn tôi bảo, chắc đâu đó trong khu Sultanahmet này thôi. Bác hỏi thế mấy hôm nay ăn thế nào, có thấy ngon miệng không? Bọn tôi thật thà bảo, ăn thua hên xui, có bữa cũng tạm, có bữa cũng hơi dở. Bác cười ngất và bảo để bác chỉ cho một nơi giá cả cũng tương đương mà đồ ăn thì ngon hơn nhiều. Đây là nơi dân local hay đến ăn. Nó không nằm ngay mặt đường nên ít du khách biết.

Địa chỉ của tiệm sách Galeri Kayseri cho những ai muốn ghé thăm bác Ali và trò chuyện một chút về những quyển sách (hoặc về... Nar Lokanta)

Divanyolu Caddesi 11
Sultanahmet 34122, Istanbul
Read More

Monday, 28 September 2015

Ngày đầu tiên ở Istanbul và những người bán hàng khu Sultanahmet

(trích từ topic đang viết bên phuot.vn "Thổ Nhĩ Kỳ - Em uống một ly trà táo nhé")


Chuyến bay của Emirates trôi đi yên ổn suốt những chặng trời mây từ SG- Dubai rồi từ Dubai-Istanbul. Sân bay Dubai lớn và có nhiều băng ghế dài cho những hành khách ngả lưng ngủ khi chờ transit. Những ai bay với Emirates và có thời gian quá cảnh trên 4 tiếng thì đều được tặng một phần ăn miễn phí ở Terminal 3.

Cuối cùng sau một quãng thời gian dài thật dài, nhóm đã đến Istanbul vào chiều tối ngày 25.4. Trời lúc đó vẫn còn se se lạnh một chút. Từ sân bay Ataturk về khu Sultanahmet, chúng tôi gọi taxi. Hoa tulip nở dọc theo hai bên đường. Đến tận lúc đó, tôi mới có cảm giác mình thật sự quay trở lại châu Âu độ cuối xuân rồi. Tôi gửi đi một tin nhắn ngắn: "Hoa tulip nở rộ khắp thành phố". Chỉ có một lời hỏi lại: "Em đang ở Hà Lan à?". Trái tim tôi chìm hẳn.

Khách sạn bọn tôi chọn nằm ngay ở khu Sultanahmet, tên là Antique Hostel. Bọn tôi có 4 đứa nên vừa vặn thuê hết 1 phòng dorm cho nữ, có 4 giường. Phòng ốc nhỏ nhắn, xinh xắn, giá tầm 20$/giường. Việc đầu tiên sau khi bung đồ ra là phải đi tìm đồ ăn. Quanh khu này có một vài nhà hàng, chất lượng cũng bình thường, không có gì xuất sắc lắm. Bọn tôi thử vài món bánh mì và kebab. Sau khi ăn xong thì một bạn đi về khách sạn nghỉ, còn ba người còn lại đi tìm xem có tiệm tạp hóa nào gần đó để mua nước. Đây là phần mở đầu của câu chuyện.

Nếu kể theo điểm nhìn của cái đứa đi về khách sạn trước thì nó nằm hoài trong khách sạn chừng hơn hai tiếng đồng hồ mà vẫn không hiểu sao không thấy đứa nào mang nước về. Không hiểu là tiệm tạp hóa ở xa lắm hay sao mà bađứa kia đi mãi không về được!

Còn nếu kể từ điểm nhìn của ba đứa đi mua nước thì đúng là... đi mãi không về được. Mà thật ra cái chỗ mua nước chỉ cách khách sạn tầm 200-300 mét. Lý do là vì tất cả những người bán hàng ở đây không bán hàng mà bán chuyện kể. Bạn đi qua cửa hàng của họ, chỉ tình cờ liếc mắt vào thì họ đã chạy ra hỏi han bạn, kéo bạn vào, kể chuyện này chuyện kia, mà chuyện nào cũng rất thú vị. Có người còn kéo tay bạn để chỉ cho bạn thấy trong quầy hàng của họ có bầy mèo con mới sinh rất dễ thương. Cuối cùng, bọn tôi gặp một cậu trai rất đáng yêu, khăng khăng hỏi: "Các cô thấy thảm bay chưa? Vào đây tớ cho xem thảm bay nhá!" Bọn tôi bảo: "Không, bọn tôi không mua gì đâu nhé." Cậu trai lại bảo: "Không mua cũng được, vào đây xem thảm bay đi." Thế là bọn tôi bước vào cửa hiệu của cậu. Cậu mang ra một cái thảm nhỏ chừng bằng một mặt bàn uống trà và quay tít nó trên đầu rồi ném xuống đất, sau đó lại nhặt lên, lặp lại hành động và ném xuống, trải ra mặt khác của thảm. Và rồi cậu bắt đầu bô lô ba la kể về chuyện cái thảm bay ở xứ Ả rập như thế nào. Cậu mời chúng tôi lên ngồi ở phòng trưng bày thảm ở tầng trên. Thế là chúng tôi được mời ly trà táo đầu tiên. Rồi cậu kể chuyện. Kể mãi, kể mãi chuyện đông chuyện tây thì cậu kể đến chính cậu. Cậu hóa ra còn trẻ măng, bỏ học college nửa chừng. Nói đến đây cậu làm vẻ mặt nghiêm túc: "Nhưng tôi biết rằng ở trong tôi, trái tim này luôn luôn chính trực."

Bọn tôi có bài học tiếng Thổ đầu tiên. Chữ cám ơn (Tesekkur ederim) là một cụm gì đó rất rất dài mà sau cùng cậu trai bảo: "Thôi các chị cứ đọc nó thành "Tea, sugar and cream" (mà sau đó bọn tôi đi đâu nói cụm từ này, cũng chả có ai hiểu, dĩ nhiên)

Cậu rủ chúng tôi cùng sang quán kế bên, khoảng 9-10h tối gì đó sẽ có điệu vũ dervish. Nhạc đã bắt đầu lên rồi nhưng bọn tôi không sang được. Bạn ở khách sạn hẳn đã chờ nước lâu lắm và chúng tôi cũng hơi hơi mệt sau một chuyến bay dài.

Ở khu Sultanahmet, chúng tôi biết được đặc điểm đầu tiên của những người bán hàng Thổ. Thật ra chẳng mấy ai mua thảm, mua đồ lưu niệm này nọ ở ngay khu này cả. Người ta sẽ đi Grand bazaar, sẽ đi những nơi khác,... Nhìn những người bán hàng trong những con đường nhỏ nhỏ ở Sultanahmet, tôi thấy có gì đó nơi họ như thể là một sự cố gắng tìm chút gì khuây khỏa trong lúc chờ đợi lượt buôn bán. Và họ giải khuây bằng cách trò chuyện với những du khách. Thật ra, nhìn theo cách nào đó, tôi nghĩ họ hơi cô đơn trong khu thành cổ này.
Read More

Saturday, 26 September 2015

Thành phố cổ kính cũ kỹ. Những người bán sách cũ tràn ra đường. Họ rao bán những ký ức cũ từ thời Soviet. Bữa tối trong nhà hàng không ai ngồi một mình. Tôi ngồi cùng 5 con mèo, một con chó và một con cừu bông, để tránh cảm giác cô đơn.
Read More

Sunday, 20 September 2015

Cinque Terre giữa trời và biển

Bài đăng trên Harper Bazaar Vietnam số 06/2015



Vào những ngày trời xám, hơi lạnh quấn lấy gót chân, tôi thường có ước muốn được nhìn thấy những màu sắc ấm áp từ một hoặc hai đóa hoa, một phiến lá xanh, một mảng trời nắng. Vì thế, tôi xỏ giày, quàng khăn và lấy chuyến tàu sớm nhất đến với năm ngôi làng của vùng biển Liguria. Không biết là do hơi biển ấm áp, gió biển dịu dàng hay do những ngôi nhà vốn luôn giữ sắc ấm trong từng màu tường, ô cửa mà hoa cỏ ở xứ này dường như lúc nào cũng rực rỡ, ngay cả vào những ngày đông lạnh lẽo nhất.


Đông Tây xuôi ngược, thương hải tang điền, có những địa danh đổi vận xoay vần đến không ngờ. Mười mấy thế kỷ trước, có ai ngờ thị trấn nhỏ Lutecia bên bờ sông Seine có lúc trở thành kinh đô ánh sáng Paris. Cũng có ai ngờ năm rẻo đất nhỏ đổ ra biển, như năm ngón tay duỗi vào biển xanh của Liguria lại thành một trong những nơi luôn nằm trong tâm tưởng của bao người. Cinque Terre vốn chỉ là một cụm làng chài giản dị, nhìn ra Địa Trung Hải. Ngay đến cái tên cũng không thể mộc mạc hơn : Năm Dải Đất, bao gồm : Monterosso, Vernazza, Corniglia, Manarola và Riomaggiore. Lịch sử của Cinque Terre bắt đầu từ nửa cuối thế kỷ thứ X. Sau một thời gian dài loạn lạc chiến tranh, những người dân đã di chuyển dần từ núi xuống vùng đất ven biển này và bắt tay vào xây dựng nhà cửa, làm những con đường nối liền năm vùng đất và canh tác trồng nho trên những thửa đất dọc triền núi. Do địa thế gần biển nên những cư dân này cũng phải xây những tháp canh và hệ thống phòng thủ chống lại cướp biển. Trong nhiều năm dài, vì vị thế khuất hẳn khỏi những nẻo đường chính trên nước Ý, Cinque Terre như một người đẹp ngủ quên. Nhịp sống hiện đại hối hả dừng chân đâu đó cách rất xa những ngôi làng nhỏ. Cho đến tận ngày nay, dù đã trở thành một địa danh du lịch nổi tiếng, nơi này vẫn có những gia đình vẫn giữ nghiệp chèo lưới và trồng nho trên những thửa ruộng bậc thang đặc trưng của vùng địa hình giữa Genoa và Tuscany. Để đến được Cinque Terre, nhìn ngắm và tận hưởng được vẻ đẹp được thời gian che chở này, người ta bắt buộc phải bỏ lại những phương tiện hiện đại như ô tô, máy bay. Một đoàn tàu nhỏ lững thững từ tốn chạy băng qua từng ga xép ven biển, một cuộc rong ruổi trên triền núi, nơi non nước như hòa sắc làm một, đó là những gì Cinque Terre tha thiết mời mọc người đến rong chơi.



Con đường giữa biển và mây
Năm ngôi làng, mỗi nơi mỗi vẻ. Monterosso có bờ cát dài. Vernazza có cảng biển nổi danh từ thời Roman và những ngôi nhà trải dài từ mỏm núi cheo leo cho đến sát tận bờ nước. Corniglia nằm ở điểm cao nhất trong ba ngôi làng, là trái tim của Cinque Terre ; muốn lên đến nơi phải leo 365 bậc thang. Manarola và Riomaggiore thì yên ả với những con ngõ nhỏ, hẹp mà người Ý gọi là caruggi. Cũng như nhiều ngôi làng vùng biển đặc trưng của Italia, Cinque Terre là một quần thể của những ngôi nhà đủ sắc màu. Nếu như ở Burano – Venice, người ta nhìn thấy tổ hợp màu sắc ấy trải dài theo bờ cảng thì ở Cinque Terre, cung bậc đa dạng này xếp tầng tầng lớp lớp, hòa lẫn vào với núi non, màu biển, màu trời, màu những tán cây. Lẩn khuất trong từng nếp nhà, nếp núi là những cây cam, chanh và trên những ban công, dàn nho vấn vít bám theo vòm cửa sổ. Tất cả đều đậm chất Địa Trung Hải.


Rất nhiều thế kỷ về trước, những người dân khi đi thăm thú từ làng này sang làng nọ đã làm một con đường men theo triền núi để nối liền năm ngôi làng lại với nhau. Và như để hòa lẫn cùng với chất thơ của thiên nhiên, người ta đặt cho cung đường cái tên rất trữ tình : Il sentiero azzuro – Con đường xanh. Con đường này dài gần 12km, bọc vòng theo triền núi, tạo thành một thế đi độc đáo dành cho người thưởng ngoạn : một bên là biển biếc êm đềm, một bên là vách núi với những thảm cây, vân đá.

Chặng đường khởi đầu từ Riomaggiore kéo dài cho đến làng Manarola cận bên có cái tên rất tình : Via dell’amore - Con đường tình yêu. Đến khi đi hết cả cung đường này, tôi mới chợt hiểu vì sao chỉ riêng đoạn đường này được đặt tên như vậy. Đây là đoạn duy nhất được lát đá, lối đi phẳng lặng, yên bình, cảm giác nhẹ nhàng, êm ái như một mối tình vừa chớm nở. Tôi đã đứng rất lâu ở một khúc quanh trên con đường này, nhìn sóng đập vào một mỏm đá giữa biển rồi lại lan ra thành những vòng bọt nhỏ. Chim nhạn và hải âu chao lượn trên đầu. Màu xanh của biển, của trời làm lòng mình hoài tưởng đến thứ cảm xúc mãnh liệt của thuở sơ kiến. Đâu đó nơi những lan can dọc theo triền núi, nhiều cặp tình lữ ghi tên mình vào những ống khóa đủ màu sắc rồi để lại đây lời thề hẹn. Đoạn cuối đường tình dẫn đến một đường hầm ngắn, trên vách khảm những tranh vẽ đất nung đầy màu sắc của sinh viên trường Academia di Brera. Những đoạn đường phía sau Con đường tình yêu gập ghềnh, trắc trở hơn rất nhiều nhưng cũng lại mang đến cảm giác hồi hộp, mong chờ và kỳ vọng sau mỗi một khúc quanh, bóng dáng một ngôi làng dần hiện ra. Ở cuối chặng đường màu xanh, Monterosso với bờ biển Fegina là phần thưởng cho đôi chân đã dần thấm mệt sau ngần ấy rong chơi.

Những ngôi làng ẩn giữa nếp thời gian

  

Mỗi chặng dừng chân ở các ngôi làng đều là một chuyến khám phá nho nhỏ. Hầu hết nhà cửa của Cinque Terre đều giữ nguyên kiến trúc cũ. Dấu tích xưa còn lưu lại trong những ngóc ngách của từng ngôi làng. Hầu như làng nào cũng có nhà thờ và nhà nguyện được xây dựng từ hơn 10 thế kỷ trước. Monterosso có nhà thờ thánh Giovanni Battista được hoàn thành từ năm 1244, nổi bật bởi những dài màu sọc xanh trắng và cửa sổ hoa hồng. Ngay gần bên là nhà nguyện Mortis et Orationis đậm nét kiến trúc baroque,  gìn giữ trong mình cây thụ cầm từ thế kỷ thứ 18. Ở Vernazza, phế tích của thành quách và pháo đài lâu đài Doria từ trước thế kỷ XI nằm khuất mình giữa cỏ cây. Còn ở Riomaggiore, do địa hình thoai thoải đổ xuống dần theo dốc núi, nhà cửa đều được xây dựng và gìn giữ theo lối kiến trúc cổ truyền : mỗi ngôi nhà đều có hai cửa ra vào, một cái quay về phía mặt đường thấp và cái còn lại trổ ra phía con đường dốc lên.

Cinque Terre đầy nắng ấm Địa Trung Hải nên khắp nơi đều thấy mèo nằm sưởi nắng, khi duỗi mình trên phế tích thành cổ, khi nằm gọn trong khoang thuyền trên bãi cạn. Có lẽ vì vậy, vùng đất này tự gọi mình là nơi chốn của những chú mèo. Hầu hết các ngôi nhà đều treo hình trang trí về mèo, ngay cả vật lưu niệm ở các boutique cũng bày tỏ sự ưu ái với loài mèo.



Cinque Terre còn khoản đãi người đến thăm bằng những trattoria nho nhỏ. Có một người Ý từng khuyên tôi rằng chính những trattoria như thế này mới là nơi nấu những món ăn ngon bậc nhất, chứ không phải những nhà hàng xa hoa nơi phố thị. Và quả thật, tại một nhà hàng địa phương nho nhỏ ở Corniglia, khuất sau một ngõ nhỏ khúc khuỷu, tôi đã có được một bữa ăn tuyệt vời nhất ở nước Ý. Hải sản được nấu cùng những loại thảo mộc mọc đầy khắp vùng Địa Trung Hải như hương thảo, húng tây, oregano, súp minestrone với cần tây, rau củ và pasta, kem Ý đủ loại mùi và ngon lành như một nụ hôn. Rượu trắng hoặc một ngụm Sciachetrà ngọt ngào được làm từ nho là một nốt kết hoàn hảo cho bữa ăn ở Cinque Terre. Chính thứ rượu trắng tuyệt hảo này là điều đã làm phồn vinh hưng thịnh lại Cinque Terre vào thế kỷ thứ XIX, sau một quãng thời gian hơn nửa thế kỷ nơi này bị bỏ quên vì một trận bão tàn phá toàn bộ năm ngôi làng.

Nếu như đứng từ biển xa nhìn vào, Cinque Terre như một cụm những ngôi nhà màu sắc xếp chồng lên nhau, đứng rạng rỡ trong nắng ấm. Mà dẫu cho vào những ngày không có nắng, tôi nghĩ bản thân năm rẻo đất này, cùng với tất cả điều ẩn chứatrong nó cũng đã có thể tạo thành thứ ánh sáng ấm áp riêng cho mình.





Read More

Thursday, 17 September 2015

ปีใหม่ ở cửa hàng Cosmo

Chiang Mai giống như một cô gái đáng yêu và đáng được người ta đến thăm nhiều lần, bởi tiếp xúc mãi mà vẫn không biết chán. Nhà cửa duyên dáng, người dân cởi mở, luôn sẵn lòng kể chuyện và đường phố thì yên tĩnh, phủ rợp bóng cây xanh. Trên Doi Su Thep, mùa xuân còn có hoa đào nở nữa :)

Tháng ba năm nay, tôi lại quay lại Chiang Mai. Một buổi chiều, tôi đi bộ dọc theo những con đường ở khu Nimmanhaemin. Đây có lẽ đây là khu mà tôi thích nhất ở Chiang Mai. Khu Nimman chia là đường chẵn và lẻ. Tôi có thói quen đi bộ ngoắt ngoéo hình chữ chi từ đường này sang đường khác, vì mỗi góc nhà ở đây đều có một chi tiết gì đó rất thú vị. Thế rồi, ở cuối hẻm số 3, tôi gặp ปีใหม่.

ปีใหม่  có nghĩa là năm mới, đọc lên nghe gần giống như Pimai. Tôi thấy em chạy vọt ra từ một cánh cổng hơi hé mở. Tôi biết tên em là ปีใหม่ vì ngay sau đó, một ông già chạy ra, gọi em và vội túm lấy em. Em gầm gừ ra vẻ khó chịu. Tôi đứng nhìn cảnh một người một chó càu nhàu lẫn nhau và đúng lúc ấy ông già ngẩng lên, thấy tôi. Tôi mỉm cười.

Và thế là tôi đi vào cái cửa hàng tên Cosmos đó. 5 giờ chiều, cửa hàng vắng tanh, không một bóng người. Nhà bên cạnh đang xây sửa chi đó, tiếng búa đập thi thoảng lại choang choang. Ông già mời tôi đi dạo một vòng quanh cửa hàng. Hầu hết đều là những thứ tôi không mua được hoặc không có nhu cầu mua. Túi da thiết kế,  khăn lụa, tranh sơn dầu theo kiểu trừu tượng (mà ông già bảo : "Chính tôi vẽ nó đấy. Cô biết đó, trừu tượng là cái thể loại ai muốn tưởng tượng sao cũng được. Nhưng cô thấy nó thế nào?"). Ông già có những ý tưởng lạ lùng về những thứ mình bán. Một chiếc túi da dài, vốn dùng để chai rượu, nhưng ông ấy bảo: "Tôi cảm thấy nó đặc biệt hữu ích cho phụ nữ khi đi đâu về lúc tối trời. Cái này y như một cây dùi cui ấy, có thể dùng làm đồ tự vệ khá tốt!" Một chiếc giỏ xách xếp lại thành nhiều hình thù khác nhau và ông ấy bảo: "Từ bác sĩ cần cầm ống nghe hay dụng cụ phẫu thuật cho đến sinh viên cần bỏ tập vở giấy tờ đều dùng được cái túi này hết."

Ông thừa biết tôi không mua gì cả nhưng vẫn lôi tôi đi khắp cửa hàng để trò chuyện về các món đồ. Sau cùng tôi được mời vào "phòng làm việc". Đó là một gian phòng nằm trong cùng. Ông già dè dặt hỏi bây giờ máy tính đang chơi loại nhạc này, nghe có hợp tai tôi không, nếu không thì đổi nhé. Rồi bọn tôi ngồi xuống ghế nói chuyện. Bắt đầu từ chuyện du lịch, vì sao ông ấy từ Mỹ chuyển sang sống ở Chiang Mai. Ổng ấy bán hết sản nghiệp ở Mỹ và cùng người bạn thiết, một tay họa sĩ, quyết định đi xem xét vài nơi ở châu Á để sống. "Những tháng ngày cũ, đôi khi bọn tôi đi săn, đôi khi đi câu, nhà hạ, dễ chịu. Nhưng cô biết đó, chúng tôi đã bắt đầu già, vật giá ở Mỹ thì đắt đỏ. Bọn tôi sợ có lúc không chi trả nổi tiền bảo hiểm y tế. Mà không có bảo hiểm, chúng tôi sao sống được. Cuối cùng trong lúc đi đây đó, chúng tôi thấy Chiang Mai, phải lòng nó ngay lập tức. Bốn tháng sau, chúng tôi dọn đến Chiang Mai và mở Cosmo." Đó là chuyện của 10 năm trước.

Rồi chúng tôi nói về những thứ kiểu như quá nửa số người trẻ ông gặp chưa hề có passport vì họ không định du lịch nước ngoài bao giờ, hoặc chuyện ông biết ở Việt nam có một người trồng hoa cảnh và bán hoa nhập khẩu đẹp lắm (mà sao giờ kiếm lại trên internet thì lại không thấy nhỉ? Đấy, khi cần người ta chẳng bao giờ tìm ra được đúng lúc!)

Chuyện trò đang rôm rả thì có tiếng chuông đồng hồ thong thả gõ nhịp. Ông già đứng bật dậy : "Cô may lắm đấy nhé. Cô được nghe tiếng chuông của cái tuyệt tác này. Một ngày nó chỉ đổ chuông 2 lần thôi, 12 trưa và 6h chiều." Ông dắt tôi lại chỗ chiếc đồng hồ. Nó bé chỉ bằng một chiếc hộp đựng thư. Ông già phấn khích kể về nó: "Đồng hồ từ thế kỷ 19 đấy. Giờ nó không còn chính xác lắm, mỗi năm nó lại chậm đi một chút. Ngày trước bọn tôi để nó đổ chuông thường xuyên hơn, nhưng gần đây nó có vẻ già yếu quá rồi nên một ngày hai bận thôi. Hãy nhìn tất cả đống bánh răng kia kìa. Một tuyệt tác đấy."

Và rồi tôi ngắm cái đồng hồ một lúc, nhận ra rằng 6h chiều, trời đã dần tối, đã đến lúc phải đi. Ông già dúi vào tay tôi một tấm thiếp ghi địa chỉ Cosmo và bảo bao giờ rảnh thì quay lại chơi nhé. Có lẽ nhiều ngày chẳng có vị khách nào đến. Người bạn thân thì đi chu du chốn nào chưa về. ปีใหม่ thì lúc nào cũng hăm hở muốn lao ra bên ngoài. Trong tiệm chỉ có một ông già, một con chó và một chiếc đồng hồ mỗi năm lại chạy chậm đi một chút...

Về ปีใหม่, sau cùng, trước khi chào tạm biệt, tôi biết em được đặt tên như vậy vì em đến với Cosmo vào đúng đầu năm mới. Hai gã bạn già tìm thấy một niềm vui bé bỏng, mắt đen, lăng xăng chạy qua lại giữa những đồ vật buồn hiu ở Cosmo. Đó là một ngày đầu năm mới.

Tôi không có bức ảnh nào về Cosmo,  ปีใหม่ và người chủ cửa hàng. Thôi, nhìn ngắm tạm những góc khác của Nimman nhé.

 




Read More

Monday, 14 September 2015

Colmar mùa lá còn xanh

Bài đăng trên Harper Bazaar số 05/2015 với tựa đề "Đến Colmar mùa xanh lá"


Photo: whenonearth


Thuở đó nhà tôi cách Colmar chỉ mười lăm phút. Một năm tôi đến với Colmar năm lần. Ai nghe cũng ngạc nhiên, ngay cả người Colmar, vì nơi này nhỏ lắm. Người ta đến cái thành phố thượng nguồn sông Rhin này, đi loanh quanh chừng một vài tiếng đã thấy lòng no đủ. Nhưng lần nào đến với Colmar, tôi cũng mang theo nhiều mê đắm, chờ mong và có biết bao hạnh ngộ với những điều bất ngờ nho nhỏ. Colmar với tôi như cuộc hẹn hò với người tình bé bỏng, chưa bao giờ hết đắm say.




Những con đường lát đá miền Đông Bắc

Người châu Âu chưa bao giờ che giấu lòng ngưỡng mộ của họ với Venice nên rải rác đây đó trên khắp lục địa này, địa danh gọi là Little Venice không thiếu. Bruges ở Bỉ, Annecy ở Pháp, Giethoorn ở Hà Lan,… Không nằm ngoại lệ, Colmar cũng được ví von với huyền thoại nước Ý, bởi nơi đây có dòng Launch yêu kiều đổ xuống từ tả nguồn núi Vosges, uốn lượn quanh những ngôi nhà kiểu Alsace.

Người ta đến với từng thành phố của Alsace này vì những lý do khác nhau. Strasbourg là thủ phủ hành chính của vùng, nơi có trụ sở của Hội Đồng và Nghị viện Châu Âu. Mulhouse, nơi được mệnh danh là thành phố ngàn ống khói, là trung tâm của những nhà máy công nghiệp hàng đầu. Còn Colmar, người ta tìm đến đơn thuần chỉ vì nàng đẹp và nàng có những câu chuyện kể rất duyên.

Mỗi lần tôi ghé thăm Colmar, mùa màng lại thay đổi, nhuộm lên những góc phố những màu sắc khác nhau. Tháng mười lá bắt đầu nhuốm vàng những tán cây lác đác đây đó trong khu phố cổ. Tháng mười hai chợ Giáng Sinh thêm vào những ánh đèn rực rỡ cùng hương vị quế hơi cay cay trong ly vang đỏ sóng sánh ấm áp. Tuyết trắng như bông đường rắc lên những ngôi nhà như kẹo ngọt. Tháng ba hoa thủy tiên, hoa iris tím nhô mình lên khỏi những chậu đất rải dọc theo con đường lát đá. Nhưng điều đọng lại vĩnh viễn theo tháng năm là màu hoa phong lữ thảo nơi những ô cửa Alsace. Suốt bốn mùa, màu hoa như đốm lửa đỏ bừng cháy nơi từng góc phố, mái nhà. Màu sắc dập dìu thắp đi thắp lại, âm ỉ mãi trong lòng tôi trong nhiều năm tháng về sau.

Colmar là nơi ký ức thời gian còn đọng trọn vẹn. Tôi có niềm vui thích được mặc một chiếc váy midi, đi giày boot cao gót, khoác một chiếc khăn choàng mỏng và bước đi trên những con đường lát đá nơi phố cổ, lắng nghe tiếng gót giày của mình khua theo từng bước chân. Lúc đó tôi không còn nhớ được bây giờ là bao giờ và đây là đâu. Thời Trung Cổ, những người buôn bán tụ hội lại thành từng nhóm, từng phường. Trên những ngôi nhà có tường nẹp gỗ, lác đác đây đó vẫn còn những biển hiệu dí dỏm của hàng xén, hàng thịt theo kiểu xưa. Kiến trúc của Colmar đậm chất Alsace, đẹp như một câu truyện cổ: mái ngói đỏ và đen dốc thẳng, tường nẹp gỗ, sơn những màu sắc tươi tắn, cửa sổ trổ nơi áp mái và ở khắp tất cả các tầng nhà, mỗi ô cửa sổ lại trang hoàng quanh mình vô vàn sắc hoa.

Đi dạo ở Colmar là một thú vui, một loại trải nghiệm lạ lùng mà rất ít nơi có thể đem lại cho những tâm hồn mơ mộng. Những nhãn hiệu quen thuộc nơi thành thị lớn, nay nằm nép mình yêu kiều trong nếp nhà cổ, bên cạnh những boutique nho nhỏ bán vô vàn thứ xinh xắn và duyên dáng. Tôi đi một lúc lại dừng một lúc, khi thì cửa hàng craft để xem những mẫu giấy ép hoa, khi thì cửa hàng len sợi với người phụ nữ luống tuổi vừa nheo mắt cười vừa thành thục đan những tấm khăn tinh xảo. Colmar cưng chiều trí tưởng tượng của tôi, cho tôi ngỡ như mình đang sống vào mấy trăm năm trước. Mỗi bước đi lại như trải qua một thế kỷ. Maison Pfister và Maison de Têtes từ thế kỷ XVI-XVII, đậm chất kiến trúc Phục Hưng Đức, Poêle des laboureurs in dấu kiến trúc Baroque Đức, Cour d'Assises tiêu biểu cho kiến trúc Tân cổ điển Pháp,… Colmar như người tình bé nhỏ, đôi lúc nghiêng về Pháp, thi thoảng lại ngả về Đức. Lịch sử và kiến trúc giao thoa, tạo thành một bản hòa ca êm đềm. Và rồi khi ngẩng đầu lên, người ta sẽ nhìn thấy chiếc tổ cò trên mái nhà thờ Saint Martin. Những con cò đến mùa lại bay về tìm nơi nương náu, yên bình như một nốt lặng của tấu khúc vùng Alsace.


Những câu chuyện nhỏ ở bảo tàng

Mọi thứ ở thành phố này đều nhỏ nhắn, ngay cả những bảo tàng. Colmar lặng lẽ giãi bày những câu chuyện, từ tốn kể từng chút một. Bảo tàng Unterlinden có cái tên rất thơ: Dưới bóng cây đoạn. Ngày trước đây là tu viện lớn nhất của vùng Alsace, nay trở thành nơi trưng bày những kỷ vật và tranh ảnh từ thời Trung Cổ và Phục Hưng. Những ai có đam mê với lịch sử nghệ thuật đều biết Unterlinden gìn giữ trong mình bức altarpiece Issenheim danh tiếng của Grünewald và Haguenau. Vào lúc chiều ngả nắng, khi đi dọc hành lang của bảo tàng tu viện này, nhìn những vệt nắng và những bóng cột hắt lên tường, trí tưởng tượng của tôi bay xa, tưởng đến bước chân âm thầm của những tu sĩ dòng Dominican mấy trăm năm về trước.

Photo: Harper Bazaar

Không cách xa Unterlinden lắm là căn nhà của Auguste Bartholdi, người đã thiết kế bức tượng Nữ thần tự do mà nước Pháp năm 1886 gửi tặng Hoa Kỳ. Biểu tượng của nước Mỹ giờ đây vang danh khắp thế giới mà câu chuyện về Bartholdi vẫn yên lặng khiêm nhường nằm lại ở một ngôi làng bé nhỏ miền Đông Bắc nước Pháp. Căn nhà nơi Bartholdi ra đời nay trở thành một bảo tàng tưởng niệm, trưng bày các tác phẩm của nhà điêu khắc này. Những bức tượng trắng, những bức tượng đồng nằm trong căn phòng cũng trắng toát. Đôi mắt của từng bức tượng như dõi theo từng cử động của những con người đến rồi đi như cơn gió thoảng.

Ở một con đường khác, tọa lạc ngay giữa lòng phố cổ là bảo tàng Đồ chơi, nơi chốn không phải chỉ dành cho trẻ nhỏ mà chào đón cả những tâm hồn muốn hoài vọng về thời thơ ấu. Ba tầng nhà đầy ắp những thứ đồ chơi dây cót, búp bê và máy móc. Ở trong thế giới ấy, truyện“Cáo và Cò” của La Fontaine hoặc Cinderella của Perrault, vốn đã là một phần trong tuổi thơ của tất cả các em bé Pháp, được thể hiện lại bằng mô hình rối máy sinh động. Và tôi đứng mê mải trước một em búp bê có mái tóc màu nắng. Trong tôi từ đâu vọng lại tiếng hát trong trẻo thuở còn thơ:


« Au clair de la lune,

Mon ami Pierrot,
Prête-moi ta plume
Pour écrire un mot.
Ma chandelle est morte,
Je n'ai plus de feu.
Ouvre-moi ta porte
Pour l'amour de Dieu. »

Tôi biết nào phải riêng tôi tự ru mình với giấc mơ này. Cái ngày tôi ngồi im lặng xem bộ phim của Miyazi Hayao, tôi biết người kể chuyện xứ Phù Tang ấy cũng phải lòng nàng thơ Colmar. Ngôi nhà Pfister từ thế kỷ XVI cùng nhiều nét kiến trúc của thành phố nhỏ vùng Alsace đã đi vào phim Lâu đài của pháp sư Howl. Và như người ta nói, để chiêm bái vĩnh viễn vẻ đẹp của một người đàn bà, hãy đem nàng vào một tác phẩm nghệ thuật, nơi nàng trở thành một nàng thơ vĩnh viễn không nhuốm màu tuổi tác.

Ngày cuối cùng tôi rời Colmar là một ngày lá xanh, cái màu non trẻ của thanh xuân đó như ửng cả lên nền trời. Màu hoa phong lữ thảo rực rỡ trên từng ô cửa sổ. Khi ngửa đầu, nhìn thấy những tia nắng tháng năm xuyên qua nhành lá, tôi biết Colmar đang gửi đến tôi nụ hôn của những ngày hoa niên, để mong tôi mãi còn đắm say mà quên lối về.



Read More