Sunday, 25 May 2008


Đọc 3 ngày mới xong quyển sách này, không phải vì nó không hay, ngược lại là khác, nó quá hay. Nhưng đọc sách lúc bị đau nửa đầu thì hình như không khôn ngoan lắm.

Holden làm mình cảm động. Nếu lúc 17 tuổi, nghĩa là bằng tuổi Holden trong truyện, mình đọc quyển sách này, có lẽ mình sẽ không chịu nổi. Phùng Khánh dịch quá tuyệt, những từ lóng, những tiếng chửi thề. Holden, thằng nhóc mới lớn, đầy những mâu thuẫn, ngổ ngáo và dịu dàng, yêng hùng và chết nhát, một cái nhìn và sự miêu tả đầy chân thực về tâm trạng con người ta khi ở tuổi dậy thì...Đọc cảnh hai anh em nhà nó, Hoden và Phoebe, lẽo đẽo theo nhau đi vào sở thú, con bé Phoebe dỗi không thèm nhìn anh nó, rồi cảnh Holden đặt con bé lên vòng ngựa gỗ quay, nhìn nó một cách say mê..., quá mức cảm động.
Đọc về cảnh thằng bé Holden đi vào trường học của Phoebe và nhìn thấy những chữ "Fuck" to tướng viết trên tường, nó buồn ghê gớm và cố chùi xóa những chữ ấy, cũng làm mình thấy cảm động vô cùng. Cả cái việc Holden luôn luôn quan tâm xem những con vịt, về mùa đông chúng sẽ ở trên trên mặt hồ đóng băng...những ấn tượng đó, trộn lẫn vào với sự cằn cỗi của đời sống, những Maurice, những Sunny, hay D.B- một ấn tượng khác về tuổi thơ đã ngã xuống khỏi mỏm đá, làm thành một cảm giác khó tả thành lời. Holden như thể một dạng thức khác của hoàng tử bé và những người canh giữ cho một tuổi thơ đã mất.
Khi đọc xong, thật ra vẫn còn rất lờ mờ về cái tựa đề truyện. Trong truyện có cảnh Holden nhìn thấy những đứa trẻ hát về cánh đồng xanh và cuộc đuổi bắt, một bài thơ của Robert Burns (cái ông mà đã từng viết câu "mọi kế họach của chuột và người đều không hoàn hảo" đó). Holden cũng nói rằng nó muốn khi lớn lên nó sẽ làm người bắt trẻ đồng xanh.

Đi tìm trên Wikipedia thì nó lý giải như sau :

Antithetically, the significance of Phoebe and Holden's relationship at the end of the story could be construed as the very sinew that ties the meaning of Holden's journey to the reader. It is in this exchange between the siblings in the park that Holden realizes he is; in fact, the catcher and he then understands that his feelings of hopeless inadequacy and displacement in his world are no longer valid, but that he truly has a purpose. As Holden becomes the catcher, Phoebe will be safe if Holden does not give in, run away and leave her; but rather, he decides to stay by her side and protect her - he does for her what no one would do for him. There is a conveyance of sacrifice in his accountability toward her as he refuses to abandon her and let her fall by the wayside. He will not let her remain a faceless child in a vast and lonely field, ignored and ignorant of the impending cliff.

However, in the final few pages of the novel, Holden realizes that he cannot take control of Phoebe's life and attempt to prevent her from growing up. Inevitably, she will make mistakes as she matures, but he sees that he must allow her to grab the "brass ring" on the merry-go-round - a symbol of adolescent errors. Inevitably, this will include some of what he terms "phoniness." Therefore, Holden has indeed changed over the course of the novel, and has come to terms, to some extent, with his inability to be a "catcher" for Phoebe and all other children - he must allow them to grow up for themselves.



Có một đoạn văn trong sách làm mình lo lắng.

Holden nói :

"Tôi bảo anh tôi thích Ring Lardner và Gasby vĩ đại các thứ. Tôi thích thật đấy. Tôi cũng mê Gasby vĩ đại đến điên lên. Anh chàng Gasby. Anh chàng thật bảnh. Ảnh khiến tôi chết được. Dù sao tôi cũng hơi mừng vì họ đã phát minh ra trái bom nguyên tử. Nếu có một trận chiến khác, tôi sẽ leo lên ngồi ngay trên quả bom ấy. Tôi sẽ tình nguyện làm thế, tôi thề với bạn"

Không hiểu sao, mình hoàn toàn tin là nó sẽ làm như thế thật.
Read More

Wednesday, 2 January 2008

Sisyphe, Thiện, và con quạ xám của Kafka







Tôi sẽ viết về Thiện, như mọi mùa xuân đến muộn. Có gì đâu, Thiện và tôi, những thế hệ không biết nhìn về phía mặt trời (dù Thiện viết hẳn một quyển sách về mặt trời). Người ta lên án chúng tôi rằng chúng tôi là những kẻ yếm thế và rằng chúng tôi đang quy chiếu cái nhìn bi quan lên mọi sự vật. Nhưng sự sống, đâu phải là một cái khung duy nhất. Trong giấc mơ gần nhất của tôi đêm qua, tôi đã thấy mình chạy như bay từ trên những cầu thang xuống những dãy phòng, rồi lại chạy tiếp qua những cánh đồng chỉ toàn đá tảng để kịp về đến hải cảng vào giờ phút nó bốc cháy. Người ta chuẩn bị dời nó đi, từ vị trí rất thấp, đem nó lên đỉnh núi và rồi biển sẽ cạn. Như vậy, những biên giới đã nhoè. Có cái khung nào cho những con số, để tôi nhìn số 1 và nói :"Trông mày gầy quá, hẳn mày là một minh chứng cho sự khốn khổ của nhân dân", hoặc tôi nhìn số 2 và nói : "Nữ thần xinh đẹp, em có cái cổ cong thật duyên dáng làm sao!". Hơn 3000 năm nay, những cái khung dịch chuyển không ngừng. Từ cách kể chuyện đầy hợp lý của những chuyện cổ tích có lớp lang : hoàng tử sẽ đánh thắng quái vật rồi mới cưới công chúa và cả 2 trị vì vương quốc, chỉ duy có lão Homere một sáng đẹp trời cương quyết trổ cửa sổ từ giữa truyện để kể: "Ulysse đang ở bữa tiệc và chàng nhìn Nausica" cho đến một ngày Kafka - con qua xám của châu Âu dừng lại và hỏi: "Trật tự, có lý, chúng là cái gì, trong khi chúng ta vẫn còn sống đây?". Và chuyện Oedipus cùng Sysiphe, hai cả mang linh hồn từ thời Hy Lạp cổ...





[chưa xong, vẫn chưa hết buồn ngủ, có lẽ bị lây bệnh của Nakata rồi.]




Read More

Friday, 6 April 2007

1 bài viết từ tháng 7 năm trước


Một chút xíu suy nghĩ về vài chữ nghĩa mới đọc được trong thời gian gần để làm ra bộ là mình có suy nghĩ (sau) khi đọc sách.

Đọc sách truyện, sách nghiên cứu văn học mãi thì rồi cũng chán. Chuyển sang đọc một ít về văn hoá thử xem sao nào. Vô tình với được “Theo vết chân những người khổng lồ”, một tập sách tập trung những bài viết về các lý thuyết văn hoá. Bốc đại một bài ra đọc, lấy bài về các môn đồ của Durkheim, chắc vì thấy tên tác giả quen quen, không nhớ là thấy ở đâu rồi(hay là nhớ nhầm thành Durrenmatt?).Người ta không đưa ra giải đáp vấn đề Durkheim là ai cả nên rốt cuộc mình cũng không thể biết được, nhưng lần mò theo những cái tên, đã tìm thấy được một chút xíu những gợi mở. Một khái niệm tự dưng gây xao xuyến. Dường như người ta đọc sách để đi tìm những cái thân quen vận vào bản thân nhiều hơn là đi tìm sự mới lạ, nhất là với những tác phẩm mang tính suy trầm hoặc ở một tầm trên.

“Trí nhớ tập thể”, khái niệm và đồng thời cũng là tên của công trình nổi tiếng nhất do Maurice Halbwachs công bố. Halbwachs đưa ra quan điểm rằng chúng ta không tự động ghi nhớ những sự kiện. Đó là một quá trình có sự chọn lọc. Hơn nữa, từ đó phải đưa ra một sự thừa nhận rằng, vậy thì trí nhớ của chúng ta về quá khứ là không đầy đủ. Có nhiều sự kiện chúng ta đã bỏ qua, đã đi qua mà không mãy may rung động trong lòng, ngược lại có những sự kiện rất mỏng manh thoáng chốc nhưng lại là một dấu ấn sâu đậm trong tâm hồn con người. Dĩ nhiên là ta chẳng có gì phàn nàn về quan điểm này. Nó không có gì sai cả.

Bước đi lên thêm của Holbwachs là việc tự vấn tại sao trí nhớ một vấn đề tưởng chừng như rất cá nhân ấy lại có hiện tượng trong một cộng đồng, một tập thể, một thể chế, một nghi lễ có rất nhiều người chỉ tập trung xoay quanh vào ghi nhớ những sự kiện trong quá khứ thuộc trách nhiệm gìn giữ và duy trì của mình. Có thể lấy ví dụ giống như người Việt Nam ở hải ngoại lưu ly từ biến loạn 75 thì tập trung ghi nhớ về sự kiện quốc tán này, còn người Việt trong bản xứ lại ghi nhớ cũng cùng trong quãng thời gian đó là chiến thắng của quân đội Bắc Việt. Halbwachs lập luận rằng chính những nhu cầu vấn đề, niềm tin trong hiện tại quyết định trí nhớ về quá khứ. Như vậy tức là vào mỗi thời đại, lịch sử sẽ có một cái nhìn dịch chuyển đôi chút. Tôi nghĩ là đôi chút thôi vì dẫu sao chúng ta cũng không tránh khỏi cái “dớp” của người đi trước. Không hẳn như Holbwachs nghĩ rằng trí nhớ tập thể sẽ liên tục được làm mới và thay đổi qua những thế hệ khác nhau. Dẫu sao thì các sử gia thời hiện tại vẫn phải dựa vào những cái nhìn đã được ghi chép của lớp người trước, thế hệ trước để đi tiếp. Mà một cái nhìn, nói gì thì nói, khi đã đưa ra một cái nhìn thì ít nhiều gì nó cũng có cái khung của nó. Nhìn một cái rất hoài nghi, sẽ một lúc nào ta tự hỏi rằng phải chăng lịch sử đúng ra là một gương mặt hoàn toàn khác mà mình không biết. Có thể lật 180 độ vấn đề như vấn đề Quang Trung. Với thời Nguyễn thì đó là nghịch tặc Tây Sơn nhưng với thời bây giờ thì là anh hùng áo vải Nguyễn Huệ. Một điều đơn giản lấy từ Holbwachs ra chứng minh là cách nhìn nhận này được tạo thành do 2 yếu tố : thứ nhất, xét ngay trong hoàn cảnh nội tại đương thời thì có 2 tập thể, hai cộng đồng với hai trí nhớ tồn tại song song, thứ hai vào thời điểm hiện tại, dưới một chế độ như thế này thì vấn đề một cuộc khởi nghĩa mà trong đó người đứng đầu xuất thân từ bình dân có một tác động xã hội nào đó. Suy cho cùng là vì những lợi ích thời đại. Cũng không có gì lạ.

Vậy thì niềm tin của chúng ta là một dạng trí nhớ tập thể. Một dạng xác lập chung của cộng đồng? Như lịch sử và tôn giáo cũng là trí nhớ tập thể ? Sao mà gần giống như khái niệm tất cả đều là tưởng tượng. Âm nhạc là tưởng tượng, văn học, kiến trúc, chiến tranh, ý nghĩa, những danh từ, khái niệm đều là tưởng tượng. Con người bị gọi là phức tạp nhất trong động vật vì nó lỡ tưởng tượng ra quá nhiều. Và nó là một chủng loại cả tin, lỡ tưởng tượng ra rồi thì tin luôn cho xong. Ặc ặc. Vậy thì chúng ta có phải là ký ức ? Chúng ta sẽ mất đi một lúc nào đó, vì đi cùng ký ức là song hành lãng quên ? Ngày đã qua và tôi sẽ không trở lại ? Tôi chỉ nhớ những gì trong phạm vi liên quan đến cá nhân. Nhưng cá nhân tôi lại sống trong một tập thể. Chẳng có gì mới, cái này Sartre nói rồi. Pierre Nora đã viết một cuốn sách tên là “Những di chỉ của ký ức”, trong đó ông ta phân ra rạch ròi khái niệm ký ức và lịch sử. Không đồng tình với Nora về chuyện này. Nora cho rằng lịch sử là sự thật còn ký ức là trí nhớ bị xuyên tạc của con người. Nhưng cái gì là sự thật ? Sự thật không bao giờ có một, có nhiều sự thật cho mỗi người, thoả thuê mà chọn. Ai cần sự thật để sống ? Nhớ đến Camus : không có sự thật nào mà không hàm chứa trong mình một nỗi đắng cay. Câu nói này đã làm lao đao suốt một quãng thời gian, vì thấy nó ứng nghiệm với hoàn cảnh quá. Sự thật nào cũng đắng cay. Nhưng mà sự thật bây giờ thì có nhiều lắm. Đó là vì Camus đã chọn sự thật đắng, như chocolate hạnh nhân, còn một vài người khác thì ăn được sự thật chocolate nhân sữa. Đùa chút.

Sự tồn tại của con người có phải là một trí nhớ tập thể không ? Vẫn lại luẩn quẩn vấn đề tôi có tồn tại hay không? Sao mà vất vả thế, đến mức nhiều khi phải phì cười vì sự lố lăng này. Đọc ít sách quá nên chẳng có gì mà sống mà gân cổ lên gào với đồng loại. Rồi nhiều lúc cũng lại phì cười vì phát hiện ra mình đã chọn một sự thật đáng cười quá, nhiều người giữa cuộc sống không sách vở đã chọn nó chứ không chọn một con bé hay ôm sách lảm nhảm như hâm. Thực ra mà nói một cách thẳng thắn thì tại sao, lý do nào khiến cho tâm hồn mình bị ấn tượng bởi cụm từ trí nhớ tập thể ? Vì Dung, rất thẳng thắn thừa nhận. Dung làm tất cả chúng tôi, tất cả những người biết Dung đều phải gào lên rằng Dung có phải là một giấc mơ ? Từ lâu rồi, từ những ngày đầu tiên sau tai nạn đó, cả hai đứa bé nhỏ nhỏ đã oà lên khóc trong căn gác xép : “ Hai đứa mình đã mơ ra Dung đúng không?”. Khẳng định vấn đề : con người ta có thể có những giấc mơ giống nhau, trí nhớ giống nhau. Dung đã bị biến mất trên sự thật vì bản thân đối tượng chính đã từ chối ký ức. Sạch sẽ là trắng phau. Sang Pháp từ 3 tuổi, không biết tiếng Việt, không biết chơi violin, chưa bao giờ gặp những người xa lạ này. Đối tượng đã vong thân, chỉ còn trí nhớ là tồn tại, một dạng vòng tròn đã mất tâm, chỉ còn những đường vòng xung quanh, là trí nhớ của một vài người về nó. Có một ngày nào trong trường hợp cộng đồng quá bé nhỏ, trí nhớ sẽ bị tiêu huỷ? Nỗi sợ một ngày nào đó, khi những người này mất dần mất mòn đi, khi chính mình qua đi sẽ không còn một trí nhớ, một ký ức nào về Dung nữa. Hay đồng nhất với nó phải là sự thừa nhận về việc tưởng tượng ra một trí nhớ, như trong vòng phấn thần kỳ của Borges? Lịch sử tiến triển của loài người cho thấy tất cả mọi trí nhớ tập thể đều có thể bị chôn vùi một lúc nào đó, một mối đe doạ thật sự. Làm người có cảm giác mình như một cái bóng bị gặm mất từng chút một mỗi ngày. Tôi thật sự sợ bị lãng quên. Tôi có là cái gì đâu, quá bé, quá nhỏ, quá vô nghĩa.

Tiếp tục vấn đề, lại bắt đầu hỏi vậy thì cái gì không phải là trí nhớ ? Hư ảo quá, đúng không ? Tự dưng rơi vào mây mù, không thấy gì nữa cả. Tình yêu có phải là trí nhớ tập thể, trong đó ngoài việc hai đối tượng chính ghi nhớ còn có sự ghi nhớ “đồng loã” của những đối tượng tập thể xung quanh? Xã hội của là một dạng trí nhớ tập thể? Vậy thì vấn đề trí nhớ tập thể trở thành một mối đe doạ khủng khiếp cho chính bản thân cá nhân con người vốn rất nhỏ bé. Có phải vì thế là sự háo danh trở nên có căn cứ và cơ sở hơn ? Để một điều bé bỏng không trở thành của tập thể, để nó chỉ mãi là trí nhớ cá nhân thì tốt nhất là nên giữ nó lại? Nhưng làm sao giữ? Làm sao phá bỏ tính tập thể của trí nhớ để có thể phân mảnh trí nhớ ra, để có thể phá vỡ tính liên kết của cộng đồng ? Vẫn là vì những lý do cá nhân. Tôi rất sợ bị lãng quên. Mặc dù tôi không muốn trở thành 1 dạng trí nhớ tập thể. Tại sao lại mâu thuẫn như thế ? Vì chưa thoả lòng một điều gì ? Tính nửa vời : một mặt vừa không muốn biến mất, một mặt lại muốn an phân trong một tập thể nhỏ nhỏ thôi. Ặc, rất đáng cười, con người. Ừ thì như Umberto Eco nói đó, đi tìm sự thật biết cười mà. Có thể nói thế này, nhại theo câu của Camus : không có sự thật nào mà không hàm chứa trong nó những điều buồn cười, hay là không có sự thật nào mà không hàm chứa trong nó tính hư ảo. Nó chỉ là một trí nhớ của rất nhiều người thôi, và có gì bảo đảm không, cho sự đúng của nó, cho sự tồn tại của nó ? Hình như không. Tôi lại thua cuộc nữa rồi.
Read More

Wednesday, 17 January 2007

8 đoản khúc ngày 17.1.07






1.Những người yêu nhau, họ khóc.


2.Chiếc đu nhỏ bay cao, tung lên trời thay vì là màu xanh của dải ruy băng thì lại là một khoảng không trống rỗng. Hẳn gió đã đẩy đưa thay cho bàn tay người yêu...
Khi tôi đến gõ cửa, có tiếng thì thầm sau khe cửa, tôi không thể nghe rõ. Và màu nâu của cánh cửa, màu xanh của đường viền, màu bạc của cái núm làm tôi nhớ Rumi cùng Omar Khayyam. "Chẳng còn Anh mà cũng chẳng còn Em". Người ở trong cửa không trả lời tôi. Cửa vẫn đóng và tôi vẫn biết bên trong có người. Dây thường xuân vấn vít leo trên những ô chạm khéo léo nơi hốc tường. Có thể mùa xuân chim câu sẽ tha về nơi này những nụ tường vi...



3.Tôi vẫn đang đứng trên thảm cỏ, đứng với chiếc khăn trải dài xuống tận mặt cỏ, là là bay như thể nó trôi trên nước. Bó hoa trên tay tôi đã héo từ lâu. Những nụ cúc trắng bé hon, những lá cỏ đinh nhu cũng đã lả đầu. Bó hoa tôi tự kết và buộc lại bằng dải băng buộc tóc của mình giờ cũng lại chính tay tôi thả cho nó tan ra theo cơn gió thổi. Những xác hoa tung ra theo nhịp đẩy của đồng cỏ, phập phồng phập phồng, đất đang thở, cỏ đang thở...


4.Buổi tối tôi trở lại với ngọn đèn trên tay. Cánh cửa vẫn đang đóng và tôi phân vân không biết có nên gõ vào hay không. Bất kỳ một âm vang nào cũng có thể làm những xác hoa ban sớm thức giấc và giật mình. Cỏ đã ngủ ngoan giờ này. Tôi đã đứng lặng rất lâu trước cửa. Trong sự phân vân của mình, tôi lỡ tay chao nghiêng chiếc đèn. Lửa liếm bén lớp giấy mỏng tang cùng những nan tre. Nó bùng cháy ngay trước mắt tôi. Xác giấy bay vút lên trời như bầy đom đóm nhỏ.



5. Tôi đứng chôn chân tại chỗ cho đến khi con đom đóm nhỏ nhất cũng tan biến. Có lẽ chúng về với cỏ dù rằng người xưa bảo "hủ thảo sinh huỳnh".Hay có thể cỏ đã ru êm những con đom đóm lạc loài thoát ra từ bàn tay tôi trong đêm nay. Đêm yên tĩnh đến độ tiếng đập cánh của chúng cũng rất mỏng. Nhạt như ánh trăng.



6.Tôi có thể tưởng tượng, đó là thứ duy nhất tôi còn lại trên thân mình, khi tôi đứng chân trần, ngồi bên dòng chảy của con nước đầu nguồn. Bờ suối, rong rêu xoà xuống đong đưa. Tôi cúi xuống, nghiêng thật sát gương mặt mình trên dòng nước. Rất có thể nước kể cho tôi nghe Khayyam đã đặt đôi mắt mình vào dòng chảy ra sao khi viết những dòng này :

Trên cỏ xanh, bên dòng suối rầm rì
Ta đọc thơ, uống rượu đến tận đêm khuya
Em có nghe dòng nước đang thủ thỉ
"Ta ra đi là sẽ không về"



7. Gulistan như một chàng Bohemien với cây đàn guitar đứng đó. Ở đồng cỏ chỉ có hai người chúng tôi. Chàng Bohemien trẻ tóc nâu và áo ngắn, sau khi trao tôi nụ hôn cuối cùng đã đọc tôi nghe bản tình ca của mùa hè, những đêm sâu, thật sâu : "Trước khi chôn vùi thân em, ta đã rải tóc ngà trên mặt em. Ước gì đêm nay đượm mùi hương chia rẽ mãi mãi em ta với ánh sáng của Thiên Đường, nơi mà ta không ở, mà ta không muốn vào, vì em đã cho ta những hoan lạc mà thánh nhân không bao giờ biết đến. Nhiều lần, ta đã vượt qua được sự đau đớn và cười với những hoa hồng trong vườn ta. Ta tự nhủ thầm rằng nếu ta còn giữ em lâu hơn nữa, có lẽ ta sẽ quen nhiều với nhan sắc em, với cái duyên của em và ta sẽ không còn yêu em như trước nữa".



8. Những con ve sầu, chúng ca hát và chết chỉ trong vỏn vẹn có một mùa hè. Cỏ cũng đã bắt đầu ngả màu.


Read More

Wednesday, 27 December 2006

Consolation



Nhớ Agnes quá, nhớ muốn điên lên. Agnes, sau khi thức đến 2h sáng với cô, tôi sẽ qua đi cơn buồn ngủ của mình.
“Con đường nàng đang chạy xe trải êm đềm dưới những vì sao xa lấp lánh. Agnes nghĩ : sống đó là một việc chẳng sung sướng gì. Sống, đó là mang cái tôi bệnh tật của mình trên thế gian.
Nhưng tồn tại , tồn tại – đó là hạnh phúc. Tồn tại : đó là biến thành thác nước, thành bể bơi bằng đá, nơi đó Vũ trụ ập xuống như cơn mưa ấm áp”
Agens, hoa lưu ly trắng, một nhánh nhỏ, áp vào ngực trắng, khuôn mặt của chiếc Đàn Lusthiste không cười.
Agnes, tại sao người ta yêu Laura? Agnes, tại sao vẻ đẹp đã lụi tàn? Agnes, tại sao người chỉ đôi khi mới nhớ đến cô ? Thời đại của tôi, thời đại nào, những đêm trắng.
Từng bài nhạc trong đêm xuyên qua đầu tôi như một làn sương đêm đọng ướt trên lớp mạng nhện tơ xanh.
Agnes, tại sao? Tại sao ? Tại sao ?
Một cái gì đó đau đớn vô cùng và tha thiết vô cùng đang dâng lên cùng tên Agnes.
Agnes. Ngươi ta quên cô rồi Agnes, chỉ đôi khi người ta mới nhớ đến cô.
Buổi sáng, dậy lúc 8h. Một cảm giác dịu dàng lan toả trên bờ vai. Có cái gì rất đáng yêu đáng gợi lên trong đầu khi nhớ ra đêm qua mình đã nghĩ gì vể Agnes. Có gì là mâu thuẫn trong những cuộc đời đang đi qua dưới cửa sổ và ngoảnh người lại, vẫy tay cười.
Một cành lưu ly trắng cho cô và tôi, Agnes.
Read More

Thursday, 21 December 2006

Đông chí




Một làng chết, tuyết phủ đầy, phía sau những ngọn núi cao im lìm cũng ngập tuyết. Những vệt đen là các cành cây uốn cong, những búi đen chắc là đám lá thông nhòn nhọn và những bóng thì chỉ có thể là những hòn đá nhoi lên khỏi tuyết; không mầu sắc, người ta không biết là đêm hay là ngày, bóng tối phát ra một thứ ánh sáng nhất định, tuyết hình như tiếp tục rơi, xoá đi các vết chân[...]
[...]Không có gì cả, chắc anh đã mơ, trong giấc mơ, tuyết rơi vào một cái làng, trời đêm được tuyết chiếu sáng lên, cái đêm này không có thật, không khí lạnh, đầu anh rỗng không, anh cứ mơ thấy tuyết, tới mùa đông và tới những vết chân người trên tuyết vào mùa đông, anh nghĩ đến em.[...]
(Linh Sơn - Cao Hành Kiện)


Tuyết, kinh nghiệm không thể chia sẻ. Những chiếc bóng ám đen vì muội khói, bốc lên từ mái nhà đã nát tươm và cọng rơm vàng hanh khô, nhạt nhoà cuối năm hoá kiếp mình thành một đốm lửa nhỏ nhoi. Những phố dài đèn treo rực sáng. Tôi nhớ giấc mơ của mình một năm trước. Tôi đã từng đến một nơi như nơi tôi vừa đi bộ qua tối nay. Những chiếc đèn năm cánh chóp nhọn sáng u mặc và không gian thì lặng ngắt, không khí lạnh lẽo và tôi kiệt sức. Tôi gõ cửa rất nhiều nhà nhưng không ai mở. Họ đi vắng ở tận đâu đâu xứ sở không biên giới nào. Đó là giấc mơ, thứ kinh nghiệm cũng không thể chia sẻ, dù muốn dù không...Và những ngọn núi thì vẫn im lìm một vẻ xám hoa hoa, ong ong lên những vân cuộn sóng trên bức tranh tâm tưởng. Núi gần hay núi xa ?
Read More

Sunday, 17 December 2006

Mặt số đồng hồ, đoạn 21


Một lần Rubens có trong tay tập album ảnh cũ của tổng thống Mỹ John Kennedy : tập ảnh gồm ít nhất là 50 tấm ảnh màu và trong tất cả các tấm (tất cả, không trừ tấm nào) tổng thống đều cười. Không phải cười mỉm mà chính là cười to! Miệng ông ta há ra, để lộ cả răng. Chuyện này chẳng có gì lạ, bây giờ các tầm ảnh đều thế cả, nhưng Ruben vẫn kinh ngạc trước việc kennedy cười trong tất cả các tấm ảnh, không có bức nào là ông không há miệng. Ít ngày sau anh đến Florence, anh đứng trước bức tượng David của Michelangelo và hình dung nếu khuôn mặt đá cẩm thạch này cười như Kennedy. David hình mẫu của vẻ đẹp đàn ông, lập tức sẽ suy yếu! Từ đấy, anh thường tưởng tượng thêm cái miệng đang cười trên những hình người trong các bức tranh nổi tiếng; đó là một thực nghiệm thú vị: cái bộ mặt cười có khả năng phá huỷ mọi bức tranh. Hãy hình dung, nụ cười hé của Joconde mà biến thành cái cười phô cả răng lợi của nàng thì sẽ thế nào !

Hơn nữa vì anh không dành thời gian đi dạođâu nhiều như tại các phòng tranh, nên phải đợi đến bức ảnh của Kennedy anh mới hiểu ra điều đơn giản này : các hoạ sĩ và các nhà điêu khắc vĩ đại từ cổ xưa đến Raphael, mà có lẽ đến tận Ingres, đều tránh vẽ tiếng cười, thậm chí nụ cười.Tất nhiên khuôn mặt của các bức tượng xứ Etrus thì đều cười, nhưng nụ cười đó không phải là phản ứng nét mặt trong một hoàn cảnh chớp nhoáng mà là trạng thái thường trực của khuôn mặt thể hiện niềm khoái lạc vĩnh hằng. Đối với nhà điêu khắc cổ đại và đối với các hoạ sĩ thời đại về sau này khuôn mặt đẹp ở trạng thái bất động.

Khuôn mặt bị mất đi sự bất động của mình, cái miệng há ra chỉ khi nhà hoạ sĩ muốn nhận thức cái ác. Hoặc là cái ác của nỗi đau xót : khuôn mặt những người phụ nữ cúi xuống thi thể Jesus; những cái miệng há ra của những người mẹ trên bức tranh “tàn sát trẻ con” của Poussin. Hoặc là cái ác tội lỗi; bức tranh Adam và Eva của Holbein. Khuôn mặt của Eva sưng lên, miệng nửa khép nửa mở để lộ hàm răng vừa cắn trái táo, Adam đứng cạnh nàng – đó vẫn là con người chưa phạm tội : chàng đẹp đẽ, nét mặt bình thản, miệng khép. Trên bức tranh của Corrège “Phóng dụ của tội lỗi” tất cả đều mỉm cười! Người hoạ sĩ muốn vẽ tội lỗi thì cần phải đẩy lui sự bình thản ngây thơ khỏi khuôn mặt, kéo căng miệng ra, làm biến dạng các đường nét bằng nụ cười. Trên bức tranh này chỉ khuôn mặt duy nhất của đứa bé là cười ! Nhưng đó không phải là tiếng cười của hạnh phúc như hình những đứa trẻ trong các bức ảnh quảng cáo tã lót hay chocolate! Đứa bé này cười, bởi vì nó bị hư hỏng!

Chỉ ở các hoạ sĩ Hà Lan tiếng cười mới trở nên ngây thơ : như trong các bức tranh “Anh hề” và “Người Digan” của Frans Hals. Các hoạ sĩ Hà Lan vẽ tranh phong tục chính là những nàh nhiếp ảnh đầu tiên. Những khuôn mặt họ vẽ nằm ngoài giới hạn cái xấu hay cái đẹp. Dạo xem phòng tranh Hà Lan, Rubens nghĩ về Cô Đàn Luthiste và tự bảo : Cô Đàn Luthise không phải là người mẫu của Hals; cô ta là người mẫu của các hoạ sĩ tìm kiếm vẻ đẹp trong bề mặt bất động của các đường nét. Bỗng anh suýt ngã vì khách xem chen lấn nhau; khắp các bảo tàng tràn ngập đám đông những kẻ vô công rồi nghề như ở các vườn thú vậy; những người khách du lịch ham thú tiêu khiển đến xem tranh như xem những con thú bị nhốt trong lồng. Hội hoạ, Rubens thầm nghĩ, ở thế kỷ này hẳn cảm thấy khó chịu ở thời này, Cô Đàn Luthisque là thuộc về một thế giới đã trôi qua từ lâu, cái thế giới trong đó vẻ đẹp không cười.

Nhưng làm sao giải thích được việc các nhà danh hoạ đã loại bỏ tiếng cười ra khỏi vương quốc của cái Đẹp ? Rubens tự nhủ : hiển nhiên khuôn mặt đẹp là vì nó chứa đựng tư tưởng, còn trong khi cười thì con người thôi tư duy. Nhưng điều đó có thật thế không ? Tiếng cười có phải là ánh chớp của tư tưởng khi nó đã nhận thức được cái hài? Không, Rubens tự bảo : vào lúc con người nhận thức được cái hài, nó không cười, tiếng cười chỉ đến sau đó như một phản ứng của cơ thể, một cơn co giật mà trong đó tư tưởng hoàn toàn không có mặt. Tiếng cười – Đó là cơn co giật của khuôn mặt, trong cơn co giật con người không làm chủ được mình mà một cái gì không phải là ý chí, không phải là lý trí làm chủ nó. Đấy là nguyên nhân vì sao nhà điêu khắc cổ đại không thể hiện cái cười. Con người không làm chủ được mình (con người nằm ngoài lý trí, ý chí) không thể được coi là đẹp.

Nếu như thời đại chúng ta, bất chấp tinh thần của các hoạ sĩ vĩ đại, đã làm cho cái cười trở thành sự thể hiện được sự ưu đãi của bộ mặt con người , thì như vậy sự thiếu ý chí và lý trí đã trờ thành trạng thái lý tưởng của con người. Có thể có ý kiến phản đối rằng cơn co giật mà các bức ảnh chụo cho chúng ta thấy, chỉ là giả vờ, đo đó, là do ý trí và lý trí tạo nên : Kennedy cười trước ống kính, không phản ứng lại cái hoàn cảnh hài hước, mà rất có ý thức há miệng và phô răng ra. Nhưng điều đó chỉ càng chứng tỏ rằng cơn co giật của tiếng cười (trạng thái nằm ngoài lý trí và ngoài ý chí) đã được con người hiện đại nâng lên thành hình ảnh lý tưởng để họ quyết định ẩn mình sau đó.

Rubens nghĩ : cái cười là biểu hiện dân chủ nhất của khuôn mặt; chúng ta khác nhau ở những đường nét bất động của mình, nhưng trong cơn co giật tất cả chúng ta đều giống nhau.

Bức tượng bán thân của Jules Caesar mà cười thì thật phi lý. Nhưng các Tổng thống Mỹ đi vào cõi vĩnh hằng bằng cách giấu mình sau cơn co giật của nền dân chủ.

(Kundera, Sự bất tử, chương Mặt số đồng hồ, đoạn 21)
Read More