Thursday, 10 September 2015

Những phác họa xuân





Truyện dịch vào mùa xuân năm 2012, gửi cho Nhã Thuyên đăng trên tạp chí hay báo gì, mình chẳng nhớ rõ nữa.




Những phác họa xuân 

Katherine Mansfield
I.
Trời đang mưa. Những hạt mưa tròn to vỡ tung trên tay trên gò má người ta, hơi ấm lan tỏa trên những giọt mưa ấy làm chúng hệt như những ngôi sao tan chảy. “Hoa hồng đây! Hoa loa kèn đây! Hoa violet đây!” một mụ già xấu xí khào khào rao lên từ ngay rãnh nước. Nhưng những bông loa kèn được bó chụm lại trong một miếng giấy trang trí xanh lét, trông chẳng khác khi mớ súp lơ. Mụ già đi loanh quanh kéo lê cái xe cút kít kẽo kẹt. Mùi tởm lợm phát bệnh bay ra từ cái xe ấy. Chẳng ai thèm mua. Mụ à, phải đi vào giữa đường ấy, vì chẳng còn tí chỗ trống nào trên vỉa hè. Các cửa hàng thừa mứa những dải đăng ten ố ố và những sợi ruy băng bẩn bẩn nhằm mê hoặc và thu hút mụ. Có những cái bàn phô bày đầy những khẩu đại bác đồ chơi, rồi lính tráng, rồi khinh khi cầu rồi khung hình với khuôn mặt đẹp lúng liếng. Có những chiếc giỏ to đựng đầy nón rơm vàng xếp chồng lên trông như những kim tự tháp bánh, rồi bao nhiêu là chuỗi giày và bốt đủ màu bé xíu xiu, không ai đi vừa. Có cửa hàng lại đầy những áo mưa xếp vuông vuông, cái màu hồng cho bọn con gái, cái màu xanh cho lũ con trai, cái nào cũng có in chữ Bébé ở ngay giữa áo.

“Hoa loa kèn đây! Hoa hồng đây! Hoa violet đẹp tuyệt vời đây!” mụ già thẽ thọt, va sầm vào một cái xe đẩy khác. Nhưng cái xe này không sao cả. Nó chất đống toàn rau diếp. Chủ của cái xe là một mụ già béo, ngồi ườn ra, thiu thiu ngủ, mũi chúi vào đống rễ rau diếp… Liệu ai mà lại định mua thứ gì ở đây chứ? Người bán hàng rặt toàn đàn bà. Họ ngồi trên những cái ghế đẩu vải bạt, nhìn  mọi thứ mơ màng và đờ đẫn. Thỉnh thoảng một người trong đám đứng dậy, lấy cái chổi phủi bụi, trông như một ngọn đuốc ám khói, phe phẩy vài cái trên mấy thứ hàng hóa rồi lại ngồi phệt xuống. Ngay cả người đàn ông già với cặp kính đồi mồi và bụng phệ như quả bóng, đứng xoay xoay vòng hình bưu thiếp hoạt hình, cũng chẳng quyết đoán hơn…

Đột nhiên, từ một cửa hàng trống ở tận trong góc, một âm piano vang lên, rồi tiếng violin và sáo cùng hòa điệu. Cửa kính của cái hàng ấy ghi nguệch ngoạc “Ca khúc mới. Tầng một. Vào cửa miễn phí” Nhưng dẫu cửa sổ tầng một có luôn mở, cũng chẳng có ma nào thèm vào. Họ hầu như chỉ nhếch mép cười khi tiếng nhạc gay gắt vơ vẩn trong không khí ngày mưa ấm áp. Ở ngay cửa ra vào là một người đàn ông gầy gò mang dép rơm chật ních. Ông ta cài một cái lông chim ngay chỗ vành mũ gãy gập và ông ta đội cái mũ ấy trông vênh váo làm sao! Cái lông cài thật quá bảnh. Gù vai óng vàng, áo khoác có khuy khuyết thùa, găng tay trẻ con màu trắng, gậy chống mạ vàng. Ông ta nghênh ngang với cái mũ và từ lồng ngực ông vang lên một chất giọng trầm trầm.

“Xin mời! Xin mời! Ca khúc mới toanh đây! Các ca sĩ đều là nghệ sĩ lừng danh châu Âu! Dàn nhac nổi tiếng có một không hai. Quý vị muốn thưởng thức bao lâu cũng được. Cơ hội chỉ có một lần”. Nhưng chả ai đến cả. Sao mà họ phải đến chứ? Họ biết tỏng mấy cô nàng này – những “nghệ sĩ lừng danh”. Một cô thì vận đồ cashmere màu kem, cô kia thì áo xanh. Cả hai nàng đều tóc xoăn sẫm màu và giắt hoa hồng hồng ngay tai… Người ta cũng biết tường tận về người đánh đàn piano, biết đến cả cái cúc gài bốt, cái chân trái để đạp pedal piano, cái chân ấy có nốt viêm tấy ở ngón cái to tướng. Người đàn violin thì móng tay cắn nham nhở, người thổi sáo thì tay áo dài lụng thụng, những ngữ ấy cũ mèm, cũ y hệt như những ca khúc mới mà họ rao lên…

Nhạc tiếp tục và tiếng ca vang rền một lúc lâu. Rồi ai đó í ới dưới cầu thang và ông bầu, vẫn vênh váo như trước, biến đâu mất tăm. Tiếng hát thưa dần. Tiếng piano, violin và sáo từ từ tắt ngúm. Chỉ có chiếc rèm đăng ten khẽ đong đưa dấu hiệu của sự sống tồn tại nơi tầng một.

Trời vẫn đang mưa; trời trở nên tối hơn. Hoa hồng này! Hoa loa kèn này! Ai sẽ mua những đóa violet của tôi ?

II.

Hy vọng! Mi – kẻ đáng thương! Mi, đồ đa cảm! Mi, bọn đàn bà héo tàn! Bứt hết dây đàn đi rồi chấm dứt ngay! Tôi sẽ lên điên mất với tiếng đàn đơn điệu không dứt của các người; tim tôi thổn thức và mỗi mạch giần giật khi nhạc vang. Trời sáng rồi. Tôi nằm trên chiếc giường trống trải – chiếc giường lớn như một cánh đồng, lạnh cóng, bơ vơ. Qua mái che, ánh mặt trời ánh lại từ sông và dập dờn trên trần nhà như những gợn sóng. Tôi nghe ngoài kia có tiếng búa đập, rồi xa xa hơn là tiếng cánh cửa sập vào, mở ra. Đây là phòng tôi sao? Quần áo tôi vắt trên ghế bành kia sao? Dưới gối, chiếc đồng hồ hình một người đàn bà cô đơn đang vang tích tắc. Chuông cửa thảng thốt vang lên. A, cuối cùng cũng đến! Tôi bật dậy khỏi giường và lao ra cửa. Nhạc chơi nhanh hơn, nhanh hơn nào! Hy vọng ơi!

“Sữa của cô đây thưa cô” người giữ cửa nhìn tôi hờ hững.
“À, cảm ơn” Tôi khóc, cầm chai sữa lên “Không có thư từ gì cho tôi à?”
“Không có gì thưa cô”
“Nhưng người đưa thư, anh ta có ghé qua chưa?”
“Hơn nửa giờ trước rồi cô ạ”
Đóng cửa. Đứng thừ ra giữa lối đi một lúc. Lắng nghe – lắng nghe tiếng đàn tưng tưng đáng ghét của ả. Dỗ dành ả - ve vãn ả - van nài ả chơi chút nhạc gì đó duyên dáng chỉ trên một dây tơ. Trong hão huyền.

III.
Bên kia con sông là một lối đi rộng rải đá viền quanh bờ sông, một người phụ nữ đang bước đi. Nàng bước xuống những bậc thang từ bến cảng, bước đi chậm chậm, một tay đặt ngay hông. Đó là một tối đẹp trời, bầu trời như có màu của những đóa tử đinh hương và màu sông thì như lá của hoa violet. Những cây to dọc con đường đẫm đầy ánh sáng run rẩy và con thuyền nhấp nhô nhảy múa, mang đến những làn bọt sóng gần như gợn gợn lên chân nàng. Giờ thì nàng dừng lại hẳn. Giờ thì nàng bất chợt ngoảnh lại. Nàng tựa vào một thân cây, hai tay phủ mặt, nàng khóc. Và giờ nàng lại bước tiếp, hai tay vặn vẹo. Rồi nàng lại tựa vào thân cây, quay lưng vào nó, đầu nàng ngẩng lên và tay nàng xiết chặt như thể nàng tựa vào người yêu dấu. Vai nàng quàng một chiếc khăn xám, nàng lấy vạt khăn phủ lên mặt, vai cứ rung rung.

Nhưng nào ai có thể khóc hoài khóc mãi được, thế nên cuối cùng, nàng trấn tĩnh lại và im bặt, vuốt lại tóc, vuốt lại tấm tạp dề. Nàng đi từng bước nhỏ nhỏ. Không, nhanh quá, chóng quá! Lại lần nữa, hai tay nàng vung lên, nàng chạy ngược về nơi cũ, nàng ôm lấy thân cây cao. Những ô ánh sáng vàng rọi ra từ những mái nhà, ánh đèn đường lập lòe xuyên qua lá, những rẻ ánh sáng đèn vàng dập dờn theo những con thuyền. Trong một khoảnh khắc, nàng như một chiếc bóng nhòe tựa vào cây, trắng, xám và đen, đổ xuống những hòn đá và những chiếc bóng. Và rồi, nàng đi mất.


Read More

Wednesday, 9 September 2015

From Riga - Latvia


A photo posted by @quynhlepq on


Nấu 108 món ăn, 108 món tráng miệng rồi tặng nhau 108 nhành hoa trắng  
Read More

Tuesday, 8 September 2015

Cá sấu hoa cà



Tranh Dan Ah Kim

Lúc tôi bước ra khỏi khu phố, đèn đường đã bắt đầu sáng. Chỉ có một cái đèn với núm tròn tròn, và cái vành chụp cũng tròn xoe như một con đom đóm phồng to đôi cánh quá mức trong đêm để soi một khoảng chập chờn sâu trải mãi về phía trước.

Con đường dài, thật dài, dài đến mức đi mãi mà có cảm giác nó xuyên ngang qua khắp thành phố, xuyên qua vách mọi ngôi nhà xếp san sát cạnh nhau. Có mùi rêu ẩm ẩm trên những mép tường loang lổ gạch và vôi vữa tróc lả tả. Tự dưng nhớ lại mấy câu nói hồi chiều của đứa em gái. Khi đó, tôi đứng tì tay lên cửa sổ phòng nó và bảo:

- Em chắc là cũng ít về nhà nên phòng không có hơi người, rêu mới lan khắp bậc cửa thế này.

Em gái tôi vẫn ngồi khuất trong một góc sẫm trong phòng nên tôi không thấy được khuôn mặt nó, cũng chẳng nghe nó trả lời gì. Nắng chiều chiếu vào đúng hai bàn chân của nó đang duỗi ra, làm tôi có cảm tưởng chúng đang chuyển sang một màu cam nhàn nhạt. Tôi lại bảo:

- Sao không về nhà hả em? Về đi, em có gì làm ở đây đâu? Em ở đây làm gì?

Lần này thì tôi nghe con em trả lời rất khẽ:

- Ở lại đây để xem rêu mọc. Mỗi tối mọc một ít.

Đường phố càng ngày giờ lên đèn càng sớm. Chẳng hiểu vì sao. Có lẽ càng ngày thiên hạ càng sợ bóng tối. Mà bóng tối thì cứ lẩn khuất đâu đó, trong suốt thảng hoặc chập chờn ngay cả trong nắng, trong gió, trong cây xanh, trong cả những thân rêu xanh ngăn ngắt vừa nhú lên. Càng thắp đèn sớm, trời lại càng mau tối. Tôi ngẩng nhìn lên bầu trời bị những mái nhà cao che cả, chỉ còn một dải dài màu xanh đậm. Nhìn như một con đường lật ngược trơn tuột vắt ngang ngay trên đầu, vừa gần vừa xa. Vẫn chưa tối hẳn mà sao ngõ phố đi âm u quá. Lại nhớ lúc con bé em tiễn tôi ra cửa, tôi vừa cột dây giày vừa hỏi:

- Trời chưa tối, bây giờ anh về rồi thì em làm gì?

Cô em nhỏ đứng tựa vào khung cửa trả lời nhát gừng:

- Em không biết. Chắc lên phòng bật đèn lên.

- Chưa tối mà em.

Không nghe câu trả lời. Lúc tôi ngẩng đầu lên đã thấy đứa em đang đi lên cầu thang, quay về phòng. Có lẽ nó thấy cần phải đi bật đèn lên thật. Biết đâu trời đã tối thật.

Vách tường hai bên đường đi tỏa ra một thứ hơi man mát, lành lạnh và không hiểu sao lại làm người ta có cảm giác rằng nó mang một thứ màu sắc sẫm màu mờ mờ. Chỉ cần đi thêm chút xíu nữa sẽ ra đến đường cái ngoài kia. Đường cái sáng rực rỡ ánh đèn. Bất giác tôi đi chậm lại, đưa tay miết nhẹ lên vách tường. Rêu êm êm và bám vào kẽ móng tay. Lại nhớ hồi bé, cách tháng một lần mẹ dúi vào tay hai anh em cái bàn chải và bắt chà sân. Cái sân gạch tàu đỏ, trời mưa xuống hay bám rêu. Con bé em thích miết tay lên những mảng rêu vừa tróc ra. Cuối buổi bao giờ cái sân cũng sạch bong mà tay chân con bé thì xanh lè.

Đường đi ở đây cũng lát những mảnh gạch vỡ màu đỏ. Và cũng có rêu. Rất trơn, mẹ nói đúng, đường gạch tàu có rêu trơn lắm, nhưng chẳng sao, tôi có ngã đâu. Từ bé đến lớn, tôi ít ngã mà cũng ít thấy người khác ngã. Có lẽ người ta thường hay bị ngã trong truyện và phim hơn. Hay ở đó đường đi nhiều rêu hơn?

Ừ, cuối cùng cũng đã ra đến đường chính. Ngoảnh đầu nhìn lại thấy con phố mình vừa ra khỏi hình như càng lúc càng co hẹp lại, bóng tối co cứng lại và vì thế sẫm màu hơn. Đường đi nhỏ lại đến mức mình chẳng tin nổi rằng mình vừa từ đó bước ra.

Tôi gọi xe và đưa địa chỉ cần đến. Tại sao con bé em chẳng bao giờ hỏi anh nó rằng: “Tối nay anh làm gì?”. Nếu em hỏi, anh sẽ ngồi xuống bên bậu cửa sổ của em và kể cho em nghe hết tất cả mọi chuyện. Nhưng em chẳng bao giờ hỏi cả. Em bao giờ cũng chỉ trả lời những câu hỏi của anh và bao giờ cũng trả lời bằng cái giọng lửng lơ chả đầu chả cuối. Sao thế hả em? Từ bao giờ rồi em đã không còn đặt câu hỏi nữa?

Người chở tôi đi là một ông xe ôm mặc chiếc áo xanh sẫm, nhìn y hệt như màu trời bây giờ, khiến tôi cứ muốn chạm tay vào vai áo ông ta mãi. Những người lái xe ôm bao giờ cũng thích trò chuyện với khách. Hình như cảm giác chở một người xa lạ trên xe mình mà câm lặng suốt quãng đường đi là một cảm giác không thể chịu đựng nổi. Người đàn ông này có một giọng nói nghe sắc sắc. Ông ta huyên thuyên mãi về chuyện giá xăng, chuyện giá vàng, chuyện bóng đá trong khi tôi lơ đãng trả lời, đầu óc còn bận với vài suy nghĩ vẩn vơ.

Rồi bất chợt chúng tôi rời bỏ đại lộ rất sáng đèn để rẽ sang một con phố nhỏ hơn. Vẫn có đèn nhưng bóng tối lại lẩn khuất đâu đây và tôi có thể cảm giác nó đang len nhè nhẹ qua tóc tôi. Và bỗng dưng người lái xe ôm quay đầu lại hỏi:

- Lúc nãy quên không chỉ cho cậu xem rạp xiếc Thủ Lệ. Cậu thấy nó chưa nhỉ?

Tôi lại trả lời nhát gừng:

- Rồi.

Và rồi tôi nhớ ngay đến cái rạp xiếc khởi đầu cho mọi câu chuyện bây giờ, mọi câu chuyện mai sau và còn mai sau mai sau nữa, mãi mãi chẳng bao giờ chấm dứt nổi. Bé em của anh, phải chi có một lần nào anh được kể em nghe thật điềm tĩnh, thật nhẹ nhàng và từ tốn kỷ niệm thời chúng mình còn bé, kỷ niệm về cái rạp xiếc đã làm khởi quay bánh xe cuộc đời chúng mình.

Anh có thể bắt đầu mọi chuyện bằng một câu thật đơn giản vô cùng thế này:

Hồi đó hai đứa còn bé lắm. Tôi mười bốn và em tôi lên mười.

Thế thôi, và mọi chuyện sẽ tự trôi chảy ra, tự mình đi hết hành trình của truyện kể. Anh đã khát khao biết bao được kể lại câu chuyện của mình, chẳng để làm gì cả, anh biết, nhưng anh vẫn muốn kể, anh cần kể lại để khuây khỏa chính mình. Nhưng em gái nhỏ của anh, chẳng bao giờ em để anh nói được câu nói ấy. Chỉ cần nhắc đến hồi mình còn bé là em đã đứng lên và bỏ đi rồi.

Vì thế, tôi lại đặt tay lên vai áo màu trời đổ sẫm của người lái xe ôm và nói:

- Ông biết không, hồi bé tôi và em gái tôi cũng đã từng được mẹ cho đi coi xiếc đấy. Hồi đó hai đứa còn bé lắm. Tôi mười bốn và em tôi lên mười. Có một người họ hàng mời cả nhà tôi lên phố để dự đám cưới. Rồi mẹ dẫn tôi và em đi xem xiếc. Vé hồi đó với chúng tôi là rất đắt nên hai anh em ngồi rất ngoan trên băng ghế, không vòi vĩnh mẹ mua quà bánh gì cả. Em gái tôi lần đầu tiên nhìn thấy con voi, nó sợ đến xanh xám cả mặt, úp hai bàn tay lên mắt nhưng thi thoảng vẫn he hé ra để nhìn qua kẽ tay. Hình như trẻ con đứa nào cũng vậy.

- Ờ, không hẳn đâu. Mấy đứa con tôi xem tivi nhiều quá rồi nên con voi cũng chẳng có gì làm nó lạ lẫm nữa. Thời này tìm được một đứa trẻ khóc vì một con voi tai to kể cũng không dễ lắm đâu.

- Ừ thì dĩ nhiên. Nhưng để tôi kể tiếp. Ở màn cuối, người ta mang ra một con cá sấu hoa cà. À, đó là lần đầu hai đứa chúng tôi nghe thấy cái tên lạ lùng này. Còn bé em tôi vừa háo hức vừa sợ hãi. Người quản trò là một gã cao to hơn ba mươi tuổi, quấn quanh mình một miếng vải có hoa văn da hổ. Lúc đó tôi tưởng đó là da hổ thật và suốt mấy tháng tiếp theo, vẫn đinh ninh người này đã hạ một con hổ thật to, lột da nó và may làm áo mặc, như Võ Tòng trong truyện ấy. Tôi nuôi một niềm thán phục với anh ta trong cả quãng thời gian dài. Nhưng tôi lạc chuyện rồi, để tôi kể tiếp. Người quản trò bảo rằng cá sấu hoa cà rất linh thiêng, chỉ cần ném một ít tiền vào cái miệng đang há hốc ra của con cá sấu thì nhất định người ném sẽ gặp may mắn trong cuộc đời. Ô, người ta ùa đến hưởng ứng trò này đông lắm.

- Tôi biết trò này rồi. Bây giờ nó nhan nhản. Rạp xiếc nào chả có một hai con cá sấu hoa cà để diễn màn ném tiền đổi vận may này. Thu cũng bộn tiền chứ ít à.

- Vậy à, thời tôi còn bé, hình như đó là rạp xiếc đầu tiên diễn trò này. Cả hai đứa tôi đều khẩn khoản xin mẹ cho tiền để ném vào miệng cá sấu nhưng mẹ không cho. Mẹ bảo phí tiền và đó là trò vớ vẩn. Rồi mẹ dắt hai đứa về.

Tôi im lặng một lúc lâu, người lái xe hỏi:

- Rồi chuyện thế nào nữa?

- Thì hết rồi, chuyện hồi đó chỉ có thế thôi. Cả hai đứa tôi đều có cảm giác mình đã bỏ qua mất một cơ hội hiếm hoi trên đời để lấy được vận may cho chính đời mình.

- Ờ thì trẻ con mà, trẻ con hay tin vào những điều như thế.

Tôi cảm thấy đắng đắng trong miệng. Tôi lẩm bẩm một mình thật khẽ: “Không hẳn thế đâu, không hẳn là chỉ khi người ta trẻ con người ta mới nghĩ thế”.

Chúng tôi dừng xe trước một ngôi nhà chẳng lớn quá mà cũng chẳng nhỏ quá. Tôi trả tiền hậu hĩ cho người lái xe vì cuối cùng tôi cũng đã kể xong được chuyện của mình, dù là với một người lạ như anh ta. Tôi bấm chuông. Đã có hẹn bằng điện thoại từ trước nên người ta mở cửa mời tôi vào không hỏi han chi nhiều. Nhà cửa không tuềnh toàng, cũng không sang trọng. Vừa đủ để con người ta sống được. Chủ nhà là người tôi tìm kiếm từ rất lâu rồi. Người quản trò của trò cá sấu hoa cà thời tôi còn bé. Không còn tấm khoác da hổ nào nữa. Ông ta giờ hơn năm mươi tuổi, mặc bộ pyjama màu trắng sọc xanh trông thư thái và nhẹ nhàng. Ông lắng nghe tôi kể lại lần nữa câu chuyện ký ức của hai đứa bé xa xưa. Tôi chấm dứt câu chuyện của mình bằng một lời đề nghị rụt rè:

- Liệu tôi có thể tìm được con cá sấu hồi đó không và nếu... nếu bây giờ tôi cho tiền vào miệng nó, biết đâu may mắn sẽ đến, cái gì đó sẽ thay đổi cho cả hai anh em chúng tôi?

Và rồi người quản trò năm xưa mỉm cười, một nụ cười gần như là đau khổ:

- Khổ quá, khi đó tôi túng quá, không biết lấy gì để câu khách nên mới bày ra trò này, chứ con cá sấu có thần bí gì đâu. Từ sau khi tôi diễn trò này, các rạp khác đua nhau bắt chước, nên mới thành ra cái gọi là niềm tin vào quyền lực của con cá sấu. Tôi cũng chẳng ngờ là cậu còn tin vào trò này nữa. Cậu thấy đó, tôi bỏ nghề lâu rồi và con cá sấu đó, nếu không lầm thì nó đã được dọn ra bàn tiệc cho người ta ăn gần 20 năm trước rồi.

Tôi không nhớ mình đã đứng lên và đi về như thế nào. Tôi đi bộ ra đường cái. Ngõ phố ở đây rộng hơn nhưng những cái chụp đèn thì vẫn tròn xoe như con đom đóm phồng to. Tưởng chừng như nó sắp vỡ vụn ra và ánh sáng vàng đục này sẽ chảy tràn trề khắp mặt đất. Lúc đi ngang một ngọn đèn đường chập chờn, tự dưng tôi thấy hiện lên trong đầu mình câu hỏi cuối cùng của người em gái. Đó là một ngày trước khi nó bỏ đi. Nó ngồi chà cái sân gạch tàu đỏ, ngón tay dài và trắng chứ không còn mũm mĩm như lúc bé vẫn nhoe nhoét rêu xanh. Tôi đứng bên cạnh xách xô nước cho nó. Em gái tôi vân vê những mảng rêu trong tay và bất chợt hỏi:

- Anh à, nếu khi đó em được ném tiền vào miệng con cá sấu đó thì có lẽ bây giờ em đã rất hạnh phúc, có đúng thế không?

Tôi không trả lời được. Tôi không biết câu trả lời là gì. Và vì thế con bé ra đi vào sáng hôm sau. Và vì thế tôi đi tìm câu trả lời cho nó. Tìm mãi và tìm mãi một con cá sấu hoa cà ngậm hạnh phúc của nó trong cái miệng lởm chởm đầy răng.

Lần trước nữa, khi tôi đến tìm nó trong căn phòng nhỏ nằm sâu hút trong con đường âm u, tôi cũng lại hỏi:

- Sao không về hả em? Em ở đây có làm gì đâu?

Nó im lặng một lúc rồi trả lời:

- Chẳng để làm gì cả. Về thì cũng hệt như thế. Mẹ lúc nào cũng làm những điều có lý, nói những điều có lý. Mẹ sẽ nhìn em y như cách người ta chào đón con chiên đi lạc trong Thánh kinh. Một sự trở về đầy đạo đức và có lý. Em không muốn về để trông thấy những điều có lý nữa. Nó vượt quá sự chịu đựng của em.

Mẹ, mẹ bao giờ cũng đúng. Mẹ biết mọi thứ. Mẹ biết khi rêu mọc thì sàn gạch tàu rất trơn và chúng tôi vẫn phải cách tháng đi chà sân một lần. Mẹ biết ngay từ đâu rằng tiền ném vào miệng con cá sấu chỉ là một trò phù phiếm. Mẹ, mẹ biết tất cả. Lúc nào mẹ cũng có lý. Và rồi, em gái tôi ra đi vào một buổi sáng. Mẹ vẫn sẽ bình tâm ngồi chờ ở nhà vì mẹ biết nó chẳng có lý do gì để ra đi, mẹ biết rồi nhất định em tôi sẽ trở về. Đó là chuyện rất logic.

Ừ, rồi buổi chiều, chiều chiếu hắt nắng vào hai bàn chân em gái nhỏ, làm tôi tưởng như dưới nắng là hai cánh sen úp xuống, ngả màu, chuyển sắc và mỏi mệt, tôi lại sẽ đến ngõ phố hẹp, đi xuyên qua bóng tối, bước dưới dải đường trời xanh lật ngược trên cao, leo lên từng bậc cầu thang chật hẹp cọt kẹt, đến phòng em tôi để hỏi:

- Sao không về hả em? Em ở đây làm gì?

Và rồi, tôi biết, biết rất rõ rằng con bé sẽ im lặng một lúc mới trả lời thật khẽ:

- Ở lại đây để xem rêu mọc. Mỗi ngày mọc một ít.
Read More

Monday, 7 September 2015

Praha – Chỉ dẫn phác họa giản lược

Bài đăng trên Harper Bazaar Vietnam số 10/2014 với tên "Dấu trầm tích ở Praha"

photo : Topwall

Có những nơi chốn nhân lúc dạo chơi nhân gian, bỗng người ta muốn dừng bước. Nhưng Praha chưa bao giờ là một địa điểm để bất chợt ghé chân.  Như một vài thành phố khác: Paris, Venice hay New York, trước khi chạm mặt nơi chốn hữu hình, người ta đã có sẵn những mảnh ghép hữu tình của nơi chốn ấy.
Người mê đọc sách sẽ thốt lên khe khẽ : “Thành phố của Kafka, đất nước của Kundera.”
Người mê nhạc cổ điển lại nghe trong đầu mình vọng lại giai điệu những bản nhạc của Dvorak và Smectana.
Người ưa những câu chuyện lịch sử hẳn sẽ gật gù nhắc lại về Mùa Xuân năm 68.  


Chỉ dẫn phác họa dành cho những ngọn tháp
Tôi đến Praha một mình, khi đợt tuyết cuối mùa vừa tan. Bầu trời thấp và nặng. Những mảng tường vẫn còn xám, những bức tượng đồng vẫn còn xanh và những mái ngói vẫn còn đỏ. Thành phố rẽ ra làm hai ngả bởi dòng Vltava nước xiết. Bên này là quận Malá Strana nằm dưới chân lâu đài, bên kia là quận Staré Město với quảng trường cổ. Và lên xuống đây đó, vắt dọc rồi lại rẽ ngang là những chiếc tàu điện nhìn cũ kỹ xa xưa, như từ ký ức chậm rãi lăn về…



Để dễ hình dung về Praha, hãy nghĩ về những ngọn tháp, bởi người ta nói đây là thành phố của hơn một trăm ngọn tháp. Tôi bắt đầu từ phía Staré Město. Như rất nhiều du khách khác, tôi đi dọc theo bờ sông và dừng lại ở cầu Charles. Một vài quyển sách du lịch gọi đây là Cầu Tình, nhưng thật ra ở châu Âu, những chiếc cầu trĩu nặng ống khóa khắc tên tình nhân không phải là điều gì xa lạ nữa. Cầu Tình có lẽ là một cái tên thuộc về tâm tưởng nhiều hơn, bởi dòng sông của những kẻ yêu nhau kia rõ ràng là đã nhập lưu vào sông Seine, sông Tiber và sông Vltava… Đứng ở phía bên này của cầu Charles, tôi chưa vội hòa mình vào dòng người lững thững chờ được xoa tay vào bức tượng thánh Nepomuk cùng con chó trứ danh của ông, để cầu vận may và mong có ngày trở lại Praha. Tôi cũng chưa muốn vội băng qua những người chơi nhạc rong, những họa sỹ truyền thần đang ngồi đợi khách ngay trên cầu. Ở đầu này của cầu Charles, có một ngọn tháp nhỏ. Tôi leo lên chiêm ngưỡng thành phố từ trên cao. Dưới ánh nắng chiều rất nhạt, Praha hiện lên với đầy đủ những chi tiết để hình dung về một thành phố châu Âu điển hình: những mái nhà với đầu hồi áp mái, ngói đỏ cam ấm áp, dòng sông đang đổ sang màu xám lạnh, lâu đài phía bên kia nằm trên cao, những chóp tháp mơ hồ không rõ là rất gần hay rất xa, khiến lòng người bất giác như nhìn thấy lâu đài của Kafka.


Tôi vẫn chưa hết phải lòng với những ngọn tháp, vì thế tôi rảo bước đến với Praský hrad, tòa lâu đài từng một thời là biểu tượng của đế chế Bohemia. Những chóp xanh của nhà thờ Thánh Vitus nơi đây vươn thẳng lên bầu trời Praha u uẩn. Sự hòa trộn giữa kiến trúc gothique cầu kỳ và buổi sáng sớm ẩm ướt sau đợt tuyết tan khiến cho cảm giác về thời gian của tôi như phủ thêm lớp sương mờ. Con đường nhỏ bọc phía sau lâu đài dẫn đến một góc phố với những căn nhà xinh xẻo đủ màu sắc, giờ là nơi bán những món lưu niệm nho nhỏ. Người ta bảo Kafka từng có một thời sống ở đây.

Và lẽ nhiên, du khách nào cũng thừa biết mình sẽ lại quay trở về Staré Město, nơi quảng trường cổ để đứng chờ chiếc đồng hồ thiên văn trứ danh đổ chuông. Bức tranh về Praha nơi đây sẽ còn được phác họa thêm hai  chóp tháp màu đen gothique của nhà thờ Church for Our lady before Tyn và lại thêm một chóp tháp Thánh Nicholas kiểu baroque. Rồi lại cũng không thể bỏ qua kiến trúc hiện đại của tòa nhà nhảy múa Fred and Ginger. Tôi cảm thấy trang giấy của mình dường như không còn chỗ trống nào nữa.

Và buổi tối, chập chờn trong giấc ngủ của tôi là hình ảnh vở nhạc kịch Don Giovani của Mozart, diễn bằng rối gỗ, một cốc trà nóng ở quán café làm từ những toa tàu điện ngay quảng trường Vaclave, một câu chuyện về những cuộc đàm đạo của Einstein, Max Brod và Kafka trong salon của Bertha Fanta… Văng vẳng đâu đó từ quảng trường cổ vọng lại tiếng búa đập vào đe của một người thợ rèn biểu diễn lại công việc của tổ tiên mình từ thời trung cổ, xen lẫn với tiếng cười nói của một đoàn diễu hành mặc trang phục như từ thế kỷ XVII, XVIII… Quá nhiều chi tiết và nhân vật. Có lẽ như thế đã đầy đủ cho những người muốn nắm bắt Praha trong một thoáng…

 

Chỉ dẫn giản lược dành cho những dấu chân một mình

Tôi nghĩ một số người lữ hành cũng có thói quen giống tôi: sau khi phủ kín trang phác họa và nhật ký hành trình với chi chít những điểm tham quan, ngồn ngộn những cửa hàng, nhà cửa…, tôi chú mục vào những nơi dành riêng cho mình, để chuyến du hành thật sự là của tôi.
Vì thế, tôi tìm đến một cửa hàng sách cũ dưới chân lâu đài, tên là Shakespeare. Người bán sách không nói năng chi, chỉ mỉm cười. Những giá sách đầy ắp ốp sát dọc tường rồi bỗng dưng ở tận sâu phía cuối cửa hàng, một ô cửa sổ mở ra, một chiếc ghế bành yên ả nằm đó như chờ đợi. Tôi có cảm giác tưởng như mình có thể ngồi đây mãi mãi.

Sáng ngày hôm sau tôi đến bảo tàng của Kafka, tọa lạc bên bờ sông Vltava. Tòa nhà nhỏ bé và nhìn giản dị, phía trước chỉ có hai chữ K như trang sách đang hé mở, người ta không thể đoán trước được điều gì đang chờ đợi mình bên trong. Nơi chốn dành để tưởng nhớ về nhà văn này cũng đậm chất u uẩn như những trang viết của ông. Những trang bản thảo, những bức ảnh, những thư từ, những câu chuyện và những đoạn phim nằm trong dòng chảy của thứ âm nhạc rung lên nhè nhẹ mà day dứt dưới ánh sáng nhạt và lặng lẽ, như buổi sáng mà Samsa thức giấc và thấy mình đã hóa thân thành con bọ. Bước ra khỏi bảo tàng nhỏ bé này, phóng mắt nhìn ra dòng sông đang cuộn nước bên cạnh, những con vịt nhỏ lấm lem bận rộn bên bờ cát ở triền sông và những con người đang hân hoan hội hè trên cầu Charles ngay đó, tôi không tránh được cảm giác lòng có gì đó như dang dở, không cách chi kể tường tận được. Kafka hẳn cũng biết Praha và bầu trời xám này đã thấm vào những giọt mực trong trang viết của ông ra sao…


Và cũng bởi bước chân bỗng trở nên quá nặng, tôi quyết định đi đến một nơi hiếm khi được liệt kê trong những quyển cẩm nang du lịch bỏ túi: công viên Divoka Sarka. Tôi muốn được thiên nhiên vỗ về đôi chút. Góc xanh nho nhỏ này nằm biệt lập hẳn khỏi thành phố. Nơi đây có những ngọn đồi đá, những lối đi quanh co khúc khuỷu và những thác nước cùng hồ nước trong veo. Màu xanh thưa thớt của lá cây đang chớm nhú xen lẫn với  màu  nâu của đất, cùng cái lạnh se se làm dịu lại những đường nét đầy hình khối rườm rà của Praha. Một ít người dân chậm rãi đi dạo. Một cô giáo đưa bầy trẻ nhỏ lẫm chẫm chơi đùa trên bãi cỏ. Khi đó tôi ngồi một mình, lòng nhẹ như một đám mây trôi và thoáng nghĩ, đây có lẽ là một trong những buổi sáng tôi sẽ không thể quên được trong đời mình, và nơi đây sẽ là một trong những nơi tôi nghĩ đến khi nhớ về châu Âu, dẫu cho không có một sự kiện hay biến cố chi xảy ra.

Công viên Divoka Sarka

Khi rời Praha, tôi không diễn tả được chính xác cảm xúc của mình là gì. Mãi đến sau đó vài tháng, đột nhiên mọi ký ức trở nên trong vắt như pha lê Bohemia. Lúc ấy tôi mới hiểu ra rằng Praha quá đẹp, khiến cho tôi bị đông cứng, không thể diễn đạt được. Như khi gặp một người đàn bà có ánh  nhìn vừa u uẩn, vừa phức tạp, người ta không thể nói rõ yêu ghét. Người ta chỉ biết rằng, nàng là người đàn bà đẹp.


Cái đó người ta gọi là "yêu người vô ngôn" ?

M.V



Read More

Monday, 24 August 2015

Bản nháp thứ nhất về đóa thủy tiên

Lúc đó là một ngày gần cuối tháng Một. Ngoài trời còn nhiều tuyết. Khi anh đẩy cửa bước ra, mũi ủng đã ngập trong tuyết. Trời đứng gió. Đêm qua tuyết rơi ngập lối. Chỉ có những cái cây biết được từng bông tuyết rơi xuống lặng lẽ thế nào trong đêm.
Anh đi chầm chậm, tản bộ dọc theo con đường phủ một lớp tuyết trắng. Cây cối trơ trụi hiu hắt mà màu trời thì xanh thẳm. Có lẽ rồi chốc nữa nắng lên, tuyết tan, vẻ mỹ miều tinh tươm này sẽ thay bằng những vũng nước lầy.
Lối đi dẫn đến công viên. Một công viên lớn nằm ngay giữa thành phố. Một niềm an ủi, một nơi chốn cho những kẻ một thân một mình như anh. Anh ngồi xuống một băng ghế. Quá sớm. Không có ai ở đây. Hoặc quá lạnh. Không có ai ở đây. 
Phải chi bây giờ là tháng ba. Hoa thủy tiên sẽ đội tuyết mà lên. Hoa điểm tuyết sẽ đội tuyết mà lên. Cây cối nứt toác ra để nhú chồi mới. 
Phải chi bây giờ là tháng ba, cho anh có một ít hy vọng để mong chờ. Một điều gì đó. Ví dụ như là một mùa xuân.
Ai nói mùa màng đến đi tuần hoàn? Anh biết có những mùa xuân đã mất vĩnh viễn, có những mùa hè không quay trở lại nữa.
Trên đường về nhà, anh nhón chân níu lấy một cành cây khô trơ trụi, tuyết trút xuống vai anh, tóc anh. Sáng nay khi ra khỏi nhà, anh quên đội mũ. Anh không cảm thấy lạnh nữa vì chuyên chú hết sức khum bàn tay, đựng một nắm tuyết.
Rồi anh quay về.
Anh mở cửa, đi về phía giường nằm. Anh đặt nắm tuyết đó vào tay ông. Hơi ấm từ bàn tay anh làm nắm tuyết co cụm lại thành một khối ẩm ướt. Anh khép bàn tay ông lại, 
Không còn mùa xuân nào cho ông nữa. Anh cũng không còn mùa xuân nào có ông.
Read More

Saturday, 15 August 2015

I wonder about the trees *

Đời sau tôi muốn trở thành một cái cây. Không phải loại cây cảnh dở sống dở chết vì chủ nhân quên tưới tắm. Không phải loại cây mọc lên ở thành thị, cô đơn giữa những khối bê tông nhà cửa lạnh lẽo, không rõ ngày nào bị đốn hạ. Không phải loại cây mọc chen chúc trong vườn tược làng quê, nửa vui, nửa buồn, nửa dở dang với những cuộc đời con người.




Tôi muốn là một thân cây to lớn, vững chãi mọc ở môt rừng núi heo hút, hiểm trở, nơi con người không thể đến được. Mỗi năm tôi trổ hoa hai lần trong lặng lẽ. Năm nào oi bức có lẽ sẽ là ba lần. Một mình trút hết hoa xuống giữa thảm rêu và địa y trong rừng vắng lặng, tự vui trong những ngày yên tĩnh.

* câu đầu tiên trong "The sound of Trees" của Frost.

câu cuối cùng là:

I shall have less to say
But I shall be gone

Read More

Thursday, 6 August 2015

...

Buổi học tập trung quanh đề tài vẽ chân dung. Cuối buổi, M. nộp cho cô giáo một tờ giấy trắng. Cô hỏi vì sao em không vẽ gì cả.
M. trả lời rằng em thật sự đã vẽ chân dung mình đấy chứ. Chỉ có điều khi đặt bút xuống vẽ bất kỳ thứ gì, em cũng nhận ra rằng cái đường nét trên giấy giống như đường phân cách em với thế giới xung quanh. Chẳng lẽ mắt em, tay em, cơ thể em lại không thuộc về thế giới rộng lớn này sao. Vẽ hình dáng của bàn tay nghĩa là xác định bàn tay là thứ khu biệt khỏi môi trường xung quanh. Có một đường biên giới giữa tay và thế giới quanh nó. Em không muốn vẽ những đường chia cắt em và thế giới. Em cực đoan muốn rằng mình là một thực thể không thể tách rời với thế giới xung quanh.
Read More