Wednesday, 30 March 2016

Troubled water


Bây giờ mình nói về mùa xuân đi. Thật ra cũng không có gì nhiều để nói.
Thôi, hãy nói thật với nhau về những thứ mà người ta tránh nói đến: những tuyệt vọng, lo âu, mệt mỏi, nhầu nhĩ của đời sống.

Đừng nhíu mày. Đó dĩ nhiên là một đề tài mà chẳng ai thật sự muốn nói đến. Những người đang buồn thì đã nằm cuộn tròn như con mèo trong chăn, rấm rứt khóc từ đêm đến hết sáng. Những người đã hết buồn thì lại càng không muốn nhắc lại nữa. Nhắc làm chi, có để làm chi đâu. Nhất là càng thêm phiền.

Trên youtube có một đoạn quay rất ngắn của nghệ sĩ Bas Jan Ader, tên là I am too sad to tell you. Đoạn phim rất ngắn, chỉ chừng 2-3 phút chi đó. quay cận cảnh khuôn mặt của một người đàn ông rúm ró vì khóc, môi mấp máy muốn nói một điều chi đó mà không nói nổi vì cơn nức nở cứ òa đến. Không phải tất cả mọi người đều xem hết trọn vẹn 2-3 phút đó. Khoảng chừng vài chục giây sau, người ta đã cảm thấy khó ở trong người. Họ tắt, họ quay ra hỏi những người xung quanh, hoặc họ search google xem ý đồ nghệ thuật là gì, Bas Jan Ader là gã nào. Hiếm ai trên đời ngồi yên để nhìn một người quá buồn đau. Người ta đơn giản là không chịu đựng nổi. Đó là một cảm giác rất khó chịu. 

Sáng sớm ngủ dậy, bước ra khỏi nhà, ai ai cũng đều là những chiến binh. Xã hội không muốn nhìn thấy những người ủ dột. Nó gây ảnh hưởng đến năng suất lao động. Nó gây khó xử cho những người xung quanh. Ngoài giờ làm việc, người ta cũng không muốn nhìn thấy những người ủ dột. Nó có vẻ thiếu lành mạnh. Tuyệt vọng, ủ dột là điều không chấp nhận được. Là loại bệnh tưởng. Là thói hư của những kẻ quá rảnh rỗi. Là biểu hiện của yếu đuối, hèn nhát, lối sống tiêu cực. Sao mọi người cũng gặp chuyện tương tự mà không sao, chỉ có mình y là lại như vậy? Một người tuyệt vọng là một người có tâm lý bất ổn, không bình thường. Và tựu trung lại là phiền. Y cần được chữa trị bằng đủ kiểu, để cuối cùng, sáng ra, khi bước ra khỏi nhà y là một chiến binh.

Có một năm khi mới vừa đi làm, tôi gặp một chuyện quá buồn. Buồn nhiều đến mức tôi cảm thấy mình không thể ở nhà một mình được mà phải ra đường, phải ở trong một môi trường có người xung quanh. Vậy là tôi đến chỗ làm. Mọi người nhìn tôi ái ngại vì nỗi buồn đó tràn cả ra từ ánh mắt cho đến nét mặt tôi. Sau cùng, một đồng nghiệp gọi tôi ra và nói em nên đi về, khuôn mặt em thế này làm mọi người khó xử. Và tôi đi về. Từ đó tôi chỉ đi làm với bộ dạng của một chiến binh, cư xử chuyên nghiệp tại những nơi công cộng. 

Chúng ta không chịu trách nhiệm về nỗi buồn của nhau. Có thật vậy không? Người ta có thể tin một cú đập cánh của con bướm từ châu Á gây ra cơn bão ở đâu đó chứ không thể tin rằng mình có liên đới chi đến nỗi buồn của người khác. Mỗi người đều là một ốc đảo. Mỗi người đều tự chịu trách nhiệm về cuộc đời mình. Tôi không cần biết anh buồn hay vui. Anh cũng không có trách nhiệm phải nghe những gì tôi nói. Chúng ta là những cuộc đời rời rạc. Người này không thể cứ thế bỗng dưng đến nói với người kia về những tuyệt vọng khổ sở trong lòng mình. Như thế thật sự rất khó xử và rất phiền. Cần có những người lắng nghe chuyên nghiệp mà ta bỏ tiền ra trả cho họ để họ chịu nghe ta nói. Chính là bác sĩ tâm lý hoặc những người tương tự. Họ là những hốc đất được trả tiền để Midas trút bí mật vào.

Rồi ai cũng là những chiến binh dưới ánh mặt trời. Vênh vang, hạnh phúc, quần áo thẳng thớm, nở nụ cười lịch duyệt, cười nói rôm rả. Và trong bóng đêm, một vài người trong họ cuộn tròn, khóc rấm rứt từ khuya đến sáng.

Cho đến một ngày, quả bom trong tim, trong đầu họ nổ tung.

Mà thôi, bây giờ nói chuyện gì đó về mùa xuân đi, dù rằng đầu thật sự rất đau trong những ngày này...

https://www.youtube.com/watch?v=4G-YQA_bsOU


* hình minh họa: lá Nine of swords trong Tarot. Mỗi lần nghĩ về cảm giác depressive, tôi đều nhớ về hình ảnh lá này: trằn trọc một mình giữ đêm thâu, ôm mặt khóc một mình.
Read More

Friday, 25 March 2016

Tick tock (initial draft)



Nước X.
Những ngày cuối đông. Thời tiết không còn lạnh buốt, mà chuyển sang cảm giác nhớp nháp ướt.
Đường phố dài và hẹp. Đa phần người ta đội mũi sụp che ngang mắt và khoác áo xám áo đen. Bầu trời cũng không sáng hơn sắc áo.
Một người ngồi trong quán cafe ven đường. Anh ta trông dường như không nghĩ ngợi gì cả.
Hoặc anh ta có thể ngồi một nơi khác, giả dụ như là ở một băng ghế chờ xe bus. Và cũng vẫn dường như không nghĩ ngợi gì cả.
Hoặc anh ta không ngồi. Anh ta đứng ở vệ đường, lưng tựa vào tường, dường như không nghĩ ngợi gì.
Điều đó không quan trọng. Anh ở đâu, làm gì, nghĩ gì, ăn món gì, ngủ ở đâu, đọc sách gì, thương mến ai, hận thù ai, luyến tiếc cuộc đời nào. Điều đó không còn quan trọng. Không còn quan trọng. Không một chút nào.
Ánh mắt anh ta linh động nhìn theo những người đi qua. Rồi đầu chợt cúi xuống. Hai bàn tay rút ra khỏi túi quần, đưa lên như phác một hành động mơ hồ nào đó.
Rồi cái đầu ấy bỗng chợt nổ tung, theo đúng nghĩa đen.
Những người đi đường hốt hoảng, họ chựng lại, tay ôm đầu, ôm ngực. Có kẻ xì xào: "Lại là bị vượt quá hạn"
Không phải vụ đầu tiên.
Đây đó rải rác khắp nước X thi thoảng báo chí vẫn manh mún đăng tin. 
Trong đầu trong tim mỗi người đều có một quả bom gài sẵn. Mỗi ngày thức dậy, ăn sáng, đi làm, đọc sách, xem phim, làm tình, xã giao, rời rạc, cô đơn. Không biết nổ lúc nào. Không còn quan trọng. Không một chút nào.
Read More

Saturday, 5 March 2016

Even the phrase ‘each other’

in Dalat mid of  Feb 2016


Beyond our ideas of right-doing and wrong-doing,
There is a field. I’ll meet you there.
When the soul lies down in that grass,
The world is too full to talk about.
Ideas, language, even the phrase ‘each other’
doesn’t make sense any more.

- Rumi -



Vượt xa khỏi những đúng sai cuộc đời
Sẽ có một cánh đồng
Tôi chờ em ở đó
Nghiêng tai vệ cỏ
Nói làm gì chuyện nhân gian…

(bản dịch của c.Giang)
Read More

Tuesday, 1 March 2016

The garden within



Thảo hơn tôi một tuổi. Tôi quen Thảo vào ngày đầu tiên đi học ở trường Đại học ở Thủ Đức. Thảo đi lạc và chúng tôi tình cờ gặp nhau, phát hiện ra cả hai cùng học chung khoa.

Sau này, Thảo vẫn thường hay đi lạc, đi rất xa, rất xa, lạc vào biển cả, hôn nhân và mộng mị. Người ta nói mộng và mị khác nhau. Người trần nằm mơ thấy mộng. Đôi lúc khi mơ, người ta lại thấy chính mình trong giấc mơ, cũng đang nằm ngủ và mơ một giấc mơ nữa. Cơn mơ ở tầng thứ hai đó gọi là mị. Khi đã lạc vào mị rồi thì rất khó thức dậy. Tôi cũng có đôi lúc ngủ triền miên bên ranh giới giữa mộng và mị.

Một buổi sáng nọ, sau khi đi lạc, Thảo hỏi tôi như thế nghĩ là sao. Tất cả cái sự đời này. Tôi nói như thế nghĩa là mọi thứ đã xong, đã qua rồi, mình đã chọn lựa rồi. Chuyện duy nhất bây giờ cần làm là sống hạnh phúc, thật hạnh phúc vào.

Tối nay tôi cũng tự nói với mình câu đó.  Chuyện duy nhất cần làm là sống hạnh phúc, thật hạnh phúc vào.
Read More

Bắc hành tạp lục

Mộc Châu

Chuyến xe khách vẫn y hệt như khoảng 20 năm trước, nhốn nháo người trước sau. Tiếng đàn ông lao xao chuyện trò, nói tục, tiếng đàn bà thút thít say xe nôn ọe.
Cơn gió lạnh ùa về thất thường trước tết làm cho cả người đi và người ở đều bàng hoàng. Ngay cả những cái cây cũng bàng hoàng. Bản làng nhanh chóng rũ hết áo hoa mận trắng để chuyển thành những vạt chồi xanh mơn mởn.
Chè vạt tận gốc, hoa mận đã tàn, chỉ còn những vạt cải trắng cải vàng lốm đốm điểm trên những ruộng nương, và người Mông, người Thái mang gùi xuống phố thị, đổi vài nhúm chuyện trò bâng quơ.
Trẻ con ăn mía, người già uống trà còn người đi lang thang thì uống gió uống sương của cơn lạnh cuối tháng hai.







Hà Nội

Ba năm trước, cũng vẫn khách sạn đó. Bước chân ra ngõ cũng vẫn gặp cái tiệm bánh đó. Hà Nội như những ngôi làng nhỏ nằm kề nhau rồi theo mỗi năm mỗi phình to ra về kích cỡ. Hà Nội chẳng bao giờ trở thành một thành phố thật sự. Nếp sống ủ kỹ trong từng nếp tế vi mà người ta dẫu có xây thêm một trăm khu đô thị mới xa hoa cho người giàu ở ngoại vi Hà Nội thì mọi thứ vẫn không thể thay đổi được.

Ba năm trước, đứng ở bến xe Yên Nghĩa, chờ bạn đưa về Hà Tây, tôi đọc tin nhắn của một người mời mọc đọc cùng nhau một vài trang sách. Ba năm sau những chồng sách vẫn còn y nguyên.

Thái Nguyên

Mười một năm rồi cả gia đình mới lại có mặt cùng nhau, dẫu kẻ còn người mất. Bác đã về lại nhà. Những niềm vui bắt đầu chớm đơm nụ. Những tình yêu như bông hoa trong vườn nhà ông, xao xác, tan tác, nhưng sẵn sàng chờ đón được mang đến một mảnh đất mới để vươn mình tiếp tục sống.




(các bức ảnh đều từ máy Pentax SpotF. Từ ngày cầm lại máy phim, mình bắt đầu có thói quen chụp rất ít ảnh. Phần lớn thời gian, mình có mặt ở đó và nhìn ngắm mọi thứ xung quanh bằng đôi mắt trần gian)
Read More

Thursday, 11 February 2016

Nguyên Xuân





1. Năm 2015 có lẽ là một năm trôi nhanh đến khó hiểu, nhưng nó cũng là một năm có nhiều thứ diễn ra. Nếu phải dùng một từ để diễn tả về năm 2015, có lẽ sẽ là "Bản thân", "Mình", "Myself". 

2. Kỳ nghỉ xuân 2015, tôi đến Làng. Vào đêm trừ tịch, tôi nhặt một quẻ bói Kiều đêm từ chiếc chuông đồng. Tôi ngồi một lúc cũng lâu bên chiếc chuông đồng đó, nghĩ xem mình muốn biết điều chi, chọn lựa điều chi cần thiết cho mình. Buổi sáng mùng hai Tết, tôi ngồi xuống bên cô Quy Nghiêm. Thị giả của cô pha một ấm trà ngon, đốt một lò trầm thơm và ngâm câu Kiều của tôi. Tôi hỏi cô: "Thứ lỗi cho con nếu câu hỏi của con siêu hình nhưng làm sao con biết được mình là ai?". Cô Quy Nghiêm có lẽ hơn 70, cô là người Việt nhưng sống ở Belgium từ rất lâu rồi. Đôi lúc tôi nhìn thấy trong cô một người già, đôi lúc tôi nhìn thấy trong cô một đứa trẻ, đôi lúc tôi không thể nhìn ra được tuổi tác và thời gian trong cô. Cô gầy gầy, mảnh dẻ, thi thoảng tôi còn nhìn thấy trong cô một cành đào vào buổi sớm mùa xuân. Buổi sáng hôm đó, cô cho tôi một câu trả lời. Khi tôi cúi xuống cám ơn cô, nước mắt tôi rơi.

3. Tôi và cuộc đời như một con diều đứt dây. Tôi hỏi câu hỏi này không phải chỉ mới vào mùa xuân năm ngoái. Tôi hỏi nó từ năm tôi 13-14 tuổi, hỏi mãi đến năm 17-18 rồi đến tận bây giờ. Những người lớn nói tôi suy nghĩ không thực tế, những bạn bè nói tôi suy nghĩ siêu hình. Để làm chi? Hãy cứ di chuyển tiếp về phía trước như đám đông đang sống, như mọi người đang sống. Sao cứ băn khoăn hoài. 

4. Kỳ nghỉ mùa xuân năm đó, vào những ngày không có thời khóa, tôi nằm đến tám giờ sáng mới dậy, mở mắt là nghe tiếng chim lích rích trên mái rơm, vách tường bằng phên nứa nên còn thơm mùi lá, trời se se lạnh và ánh sáng nhẹ nhàng hắt xiên qua khe cửa. Lúc đó tôi nằm đọc quyển Hội hè miên man của Hemingway. Đến gần cuối kỳ nghỉ thì tôi chuyển sang quyển về Duy biểu học. Thỉnh thoảng điện thoại báo tin nhắn đến. Những chuyện trò nhẹ nhàng với anh ta. Ngày tháng rất dễ chịu.

5. Năm 2014 tôi đến Làng lần đầu vào tháng 7. Năm 2015 tôi quay lại Làng thêm 3 lần nữa, thêm một lần trước Tết là lần thứ 4. Cứ sau mỗi lần quay lại, mây mù trong tôi tan bớt đi. 

6. Năm tôi mới vào làm, tôi gặp chị ngay giai đoạn chị bắt đầu bước vào khủng hoảng. Câu chuyện về thời ấu thơ khủng khiếp của chị ấy, cả trường Đại học đều biết.  Trước giai đoạn đó, chị là một trong những người năng nổ, hoạt bát nhất mà tôi từng biết trên đời. Lúc đó tôi không thể hiểu được vì sao một câu chuyện trong quá khứ lâu như vậy lại có thể quay trở lại quật ngã một con người.  Những tổn thương của tuổi thơ không ngủ yên như mình nghĩ. Người ta lớn lên, nghĩ rằng đã vượt qua tuổi thơ, nhưng những kết sử, khúc mắc thì vẫn còn đó, cho đến một ngày, nó bật đứng dậy, sừng sững trước mặt, Tôi gần như nhìn thấy từng ngày chị ấy càng chìm sâu vào bóng tối. Nó nuốt chửng chị ấy. Cuối cùng chị ấy bỏ việc. Ba năm sau, tôi gặp lại, chị ấy gần như đã hóa điên.

7. Tháng năm và tháng sáu là một quãng thời gian khó khăn. Rất nhiều những điều trong quá khứ thức dậy trong tôi. Và rất khó để tìm được sự chia sẻ hay an ủi. Có một buổi, khi đang ở phòng tập yoga, tôi cảm thấy mình như tách lìa khỏi cơ thể mình. Nỗi khổ sở và mệt mỏi đó không chia sẻ được và rất khó hiểu với nhiều người. Não bộ của chúng ta không phân biệt được nỗi đau thể xác và nỗi đau tinh thần. Vì vậy mà đa phần khi chúng ta quá đau và mệt về tinh thần, cơ thể chúng ta cũng rệu rã. Nhưng không phải ai cũng hiểu được điều đó. Buổi sáng ngày hôm sau, khi tôi nói về chuyện này với một người bạn thân, cô ấy chỉ bảo: "Chị có trí tưởng tượng tốt thật". Tôi cảm thấy mình bơ vơ hơn bao giờ. Một cái gì giống như vực thẳm bắt đầu thành hình.

8. Tôi khóc như một đứa trẻ với cô Thoại Nghiêm. Cô để cho tôi khóc, để cho đứa trẻ 5 tuổi trong tôi khóc, để cho nó nói ra được những khổ đau từ 25 năm trước. Cái đứa trẻ đó nó ngã từ ngần đó năm mà không biết làm sao làm lành vết thương vì với người lớn vết thương đó xá gì. Và trong cái buổi chiều tháng sáu đó ở Làng, khi tôi đi ra từ phòng cô, tôi cảm giác cuối cùng cũng đã có người ôm đứa trẻ 5 tuổi đó vào lòng và nói: "Quỳnh ơi, không sao nữa đâu. Con được yêu thương mà."  

9. Buổi chiều giữa tháng sáu, khi đi bộ một mình trên những con đường mòn quanh Làng, ngắm mặt trời xuống, ngắm mây đổ sang ánh vàng, tôi đột nhiên cảm nhận được lần đầu tiên trong đời sự hạnh phúc kinh hoàng của tự do. Không còn cần suy nghĩ về công việc, lo âu. Không còn cần băn khoăn xem mình có được yêu thương nữa không. Tôi không còn phải nghĩ xem ba có thương mình không, anh ta có thương mình không. Thứ tự do, thứ hạnh phúc này gần như một sự mặc khải mà tôi không diễn tả thành lời được. Có lẽ đó là một trong những khoảnh khắc tôi hạnh phúc nhất trong cuộc đời mình và tôi nói điều này hoàn toàn theo nghĩa đen.

10. Tôi từ bỏ rất nhiều mối quan hệ thân tình trong một quãng thời gian rất ngắn. Chỉ đôi ba tháng. Lòng tôi lúc đó là một cốc nước nhỏ, một vốc muối cho vào cũng đã là quá mặn, không uống được. Đa phần không phải vì giận dữ mà là vì mệt. Tôi cứ luôn cảm thấy mình có lỗi vì là bản thân mình. Mỗi khi có xung đột với một ai đó, tôi thường phải tự dằn vặt rằng tại mình quá nhạy cảm, mình quá đa cảm, yếu ớt, mình suy nghĩ quá nhiều, mình quá ngây thơ với cuộc sống, mình quá lý tưởng về cuộc đời, mình đòi hỏi quá nhiều... Những tháng giữa năm nay, tôi không còn đủ năng lượng trong mình cho những điều này nữa. Cô ấy gửi một lá thư. Anh ấy gửi sự im lặng. Chị ấy gửi một cơn giận. Tôi rã rời. Tôi bỏ chạy. Tôi không muốn cảm thấy như vậy nữa. Tôi không muốn cảm thấy mình có lỗi vì là chính mình. Tôi mệt mỏi vì bị phán xét và ép buộc thay đổi. Dù rằng tâm ý họ tốt lành. Tôi nghĩ cuối cùng sau 30 năm, tôi phải ngưng lại việc sống với mặc cảm có lỗi. Tôi chỉ muốn là bản thân mình, chấp nhận mình và yêu mình thương mình nhiều hơn. Tôi muốn ở lại cùng với bản thân mình, chăm sóc nó, chữa lành cho nó và tôi muốn ở lại cùng với những người nuôi dưỡng tôi bằng tình thương và thời gian họ dành cho tôi.

11. Cô Quy Nghiêm và cô Thoại Nghiêm cho tôi một liều thuốc, nhưng hiệu quả của nó thì phải đến những ngày gần cuối năm mới phát huy. Tôi nối lại từ từ những mối dây đã đứt trong lòng. Những kết nối từ từ định hình để tôi trả lời được câu hỏi về bản thân. Và mỗi ngày một chút, khi nhìn vào mình, cố hiểu mình, tôi cảm thấy kỳ lạ như thể đang làm quen với một người bạn mới, người mà tôi sống cùng hơn 30 năm nay nhưng không hiểu rõ buồn vui, tâm tư, tính cách. Điều dễ chịu nhất trong cuộc khám phá này là cảm giác tự do từ từ bỏ bớt được những nút thắt và không còn muốn lao ra tìm một cái gì khỏa lấp bớt chỗ trống trong lòng, bất kể đó là tình yêu, tình bạn hay công việc, sách vở... Tôi cảm thấy vui với người bạn 30 tuổi này. Tôi cũng thấy yêu mến người bạn này nữa, mặc dù dạo này bạn ấy hay bệnh tật dây dưa quá :) Đó có phải là cảm giác phải lòng chính bản thân mình?

12. Tôi vẫn làm công việc cũ, vẫn đến văn phòng cũ, ở ngôi nhà cũ. Ba mẹ vẫn như trước, bạn bè cũng vẫn như trước. Nhưng mọi chuyện dễ chịu hơn trong lòng tôi nhiều. Núi vẫn là núi, sông vẫn là sông, nhưng lòng đã khác. Cái thấy của con người về một vấn đề có thể cởi bỏ được nhiều thứ khôn tả.

13. Ở Làng tôi khóc nhiều lần vì hạnh phúc và vì xúc động. Tháng sáu, tôi khóc khi nghe một chị kể về hành trình tìm người cha hơn 20 năm. Cha chị có hai gia đình trong chiến tranh và ông muốn tránh chị, cứ mỗi lần chị tìm đến nơi, ông lại bỏ đi nơi khác. Hai mươi năm chị đi như vậy, chỉ để tìm ông, hỏi ông xem vì sao ông lại làm thế với chị. Cuối cùng chị quyết định dừng lại, chị sống một cuộc sống nuôi dưỡng tình thương trong lòng và tha thứ cho cha. Tháng mười hai, tôi khóc vì một người bố xin lỗi con trai mình trước hơn ba trăm người, ông nói rằng bố xin lỗi vì là một người bố không tốt với con. Cần rất nhiều dũng cảm và yêu thương trong lòng để có thể hiểu và dung thứ cho nhau trong cuộc đời.

14. Trước Tết 2 tuần, một duyên cớ khiến tôi phải quay lại Thái 3 ngày. Buổi khuya hôm đó, khi ngồi trong xe bus từ Don Muang về thành phố, tôi chảy nước mắt vì chợt nhận ra mình thương ba mình nhiều thế nào. Cô Thoại Nghiêm cho tôi một lời giải cho bài toán về tình thương của ba dành cho tôi. Còn tôi, từ lời giải của cô, tìm ra được tình cảm của mình cho ba. Tôi đã thương ba và cần tình thương đó nhiều đến mức một cách vô thức, tôi tìm kiếm những tính cách của ba trong tất cả người tình đời mình. Tôi tìm cách lấy từ họ tình thương mà tôi lẽ ra phải có được từ ba. 

Nhưng mà vốn dĩ, ba không phải là một thực thể ngoài tôi. 

Buổi tối đó, trên xe bus, tôi khóc một mình lặng lẽ, không phải vì đau khổ mà vì hạnh phúc. Cuối cùng, sau rất nhiều năm, tôi biết mình không còn nỗi sợ hãi bị bỏ rơi, nỗi sợ hãi thiếu thốn và đói khát tình thương. Tôi biết là mình đã được tự do.
Read More

Friday, 22 January 2016

Chuyện kể về xứ Iberia và Colchis






Nhân viên cửa khẩu nhìn giấy tờ của tôi một lúc thật lâu rồi hỏi: “Vì sao lại chọn đến Georgia?” Tôi trả lời ngay: “Vì những ngọn núi ở đây.” Ông ngước lên nhìn tôi lần nữa rồi đóng dấu nhập cảnh. Con dấu có hình đất nước Georgia, màu xanh y hệt như những ngọn núi vùng Caucasus vào mùa hè.
Tôi nghĩ mình đã trả lời rất thật lòng cho câu hỏi ấy. Khoảng vài năm trước, có một lần tôi lang thang qua một diễn đàn nọ và thấy ai đó đăng toàn những bức ảnh về một nơi núi non trùng điệp, đẹp đến mức phải thở chậm lại để nhìn cho kỹ. Từ lúc ấy, tôi cho Georgia vào danh sách những nơi mình muốn đến, chỉ với một lý do : những ngọn núi đẹp. Nhưng bạn biết rồi, nhiều nơi chốn mãi mãi chỉ là một cái tên được người ta ghi vào sổ tay kiểu “100 nơi cần đến trước khi chết” “50 địa điểm nên đi trước khi 30 tuổi”… Tôi chỉ quyết tâm biến dòng ghi chép trong sổ thành chiếc vé máy bay sau một tối trò chuyện cùng mẹ và phát hiện ra những ngọn núi ở Georgia biết kể chuyện. Hóa ra Georgia không phải là một cái chấm nhỏ vô danh trên bản đồ thế giới. Cái dải đất nhỏ trập trùng núi non đó có mặt trong những câu chuyện thần thoại Hy lạp về Prometheus lấy cắp lửa cho loài người rồi bị xiềng trên dãy Caucasus, về nàng Medea ở xứ Colchis giúp chồng đoạt bộ lông cừu vàng của cha để trao cho đoàn thủy thủ tàu Argonauts.

Georgia là một xứ sở cổ xưa và cô đơn. Thứ ngôn ngữ của người Georgia không thuộc về bất kỳ nhóm ngôn ngữ nào trên thế giới. Họ là một dân tộc mang trong lòng mình hai thứ gánh nặng và cũng có lẽ đồng thời là sự tự hào: lịch sử cùng cô độc.

Andersen có lần viết truyện về một đôi giày của vận may, hễ ai xỏ chân vào đó, chỉ cần bước một bước thôi là sẽ đi đến một quãng thời gian khác trong lịch sử. Georgia làm cho tôi đôi lúc phải nhìn lại xuống chân mình xem liệu có phải mình đã vô tình xỏ chân vào đôi giày ấy hay không. Những cảnh sắc của đời sống biến chuyển đan xen giữ những chiều kích của thời gian. Có những đại lộ như Rustaveli với quảng cáo, cửa hàng đèn điện sáng trưng của thế kỷ XIX, thế mà rẽ chân vào một ngõ phố nhỏ hay bên cạnh, tôi tưởng mình lạc về vài thế kỷ trước với nhà gỗ, ban công chạm trổ đường diềm cầu kỳ, người già ngồi trước ngõ từ tốn ngó bọn trẻ con chạy nhảy trong sân nhà. Hay phiên chợ trời ở Cây Cầu Cạn ngay giữa lòng thủ đô Tbilisi có những chiếc khung ảnh, ly tách, bát đĩa như thể mới được ai đó gỡ từ trên tường nhà, lấy trên bàn ăn, tủ chén của một gia đình sống vào thập niên 50-60 của thế kỷ trước. Rời khỏi Tbilisi, tôi lại càng thấy băn khoăn về đôi giày của mình hơn, vì càng lúc càng không thể rõ được mình đang đứng ở mốc thời gian nào nữa, nhất là với Mtskhesta và Ushguli.










Mtskheta – kinh đô của vương quốc Iberia

Nước Georgia bây giờ được hợp thành từ hai vương quốc cổ là Iberia và Colchis. Thủ đô Tbilisi hiện tại thuộc về vương quốc Iberia. Cách đó chỉ 20 cây số là Mtskheta, thành phố từng là kinh đô của vương quốc Iberia từ thế kỷ thứ 3 trước công nguyên.

Tôi mất một lúc loay hoay ở bến xe buýt để phát âm cho đúng và đầy đủ các phụ âm trong chữ Mtskheta. Thành phố nho nhỏ này dân cư thưa thớt. Ấy thế mà nó lại là một trong những thành phố lâu đời nhất của Georgia. Không giống như khu phố cổ ở Tbilisi chịu sự tàn phá của thời gian và chiến tranh, Mtskheta chỉ như đang chìm vào một giấc ngủ với mưa bụi tháng mười nhè nhẹ phủ lên những con đường lát đá vắng vẻ vào buổi sáng sớm. Những ngôi nhà ban công với diềm gỗ diêm dúa, vấn vít bởi giàn nho với từng chùm quả tím thẫm nho nhỏ đong đưa. Và rồi tiếng chuông của nhà thờ Svetitskhoveli vang lên giống như một dấu hiện lay tỉnh cả thành phố nhỏ. Cùng với Jvari nằm trên đỉnh một ngọn đồi gần đó, Svetitskhoveli được xem là một trong những trung tâm tôn giáo của nước Iberia cổ và cả Georgia bây giờ. Tương truyền, khi xây dựng, người ta chặt một cây tuyết tùng để dựng cây cột chống thứ bảy trong nhà thờ. Cột chống này có phép màu và được đặt tên là Cột của Sự Sống, đó cũng là ý nghĩa của chữ Svetitskhoveli. Tôi không rõ cây cột chống ấy có mầu nhiệm thật không, nhưng đúng là sự sống của Mtskhesta vào ngày tôi đến đều xoay quanh nhà thờ Svetitskhoveli. Du khách đến đó, trẻ con đến đó, người mộ đạo đến đó, những hôn lễ của dân địa phương cũng diễn ra ở đó. Tôi dự đủ ba phiên lễ về vòng tuần hoàn của cuộc sống: một lễ rửa tội cho em bé, một lễ cưới, một lễ tưởng niệm người đã khuất. Những vị tu sĩ mặc áo chùng đen y hệt thời xưa, những phụ nữ choàng khăn lên tóc, hát thánh ca bằng tiếng Georgia.


Tôi bước ra khỏi nhà thờ vừa lúc trời xanh lại, mưa đã dứt lúc nào không biết. Một vị tu sĩ áo chùng đen, chạy theo một con gà nhỏ trong bãi cỏ khuôn viên nhà thờ. Tôi đang ở trong một trang sách, có phải vậy không?



Ushguli – ngôi làng cao nhất châu Âu

Pic by maki
Georgia là một nước không lớn lắm nhưng địa hình núi non khúc khuỷu nên đi từ Tbilisi đến Svaneti bằng đường bộ cũng tốn kha khá thời gian. Vì thế tôi chọn cách bay thẳng từ Tbilisi đi Mestia trên một chiếc máy bay nhỏ xíu, chỉ có 15 chỗ ngồi, chiếc vé boarding cũng chỉ nhỏ bằng ba ngón tay, sân bay Mestia hẳn cũng là sân bay nhỏ nhất mà tôi từng thấy. Khi chiếc máy bay chao nghiêng giữa những cánh núi của dãy Caucasus, tôi có cảm giác như mình đang ở một cảnh trong phim Porco Rosso vậy.



Svaneti là nơi sinh sống của người Svan, những cư dân ở đây từ hơn mười thế kỷ. Vùng đất này ngày trước là một phần của vương quốc Colchis. Mestia, thủ phủ hiện tại của vùng, là nơi hiện đại nhất. Nhưng chỉ cần bước chân ra khỏi trục đường chính của Mestia, đi lang thang, rẽ vào một vài ngõ nhỏ, người ta dễ có cảm giác mình bước thẳng từ thế kỷ XX sang thời trung cổ. Những tháp canh bằng đá của người Svan ngạo nghễ dựng đứng giữa trời. Những chiếc tháp này chủ yếu được hình thành từ thế kỷ thứ IX – XII, có từ ba đến năm tầng, bên trong chủ yếu chứa nông cụ lương thực dự trữ cho muà đông hoặc lúc chiến tranh. Đây vừa là nơi ở vừa và hệ thống phòng thủ của người Svan đối với những đợt tấn công của quân thù.




Tôi ra quảng trường ngay giữa Mestia tìm người đồng hành chia tiền xe và một tài xế để thương lượng về chuyến đi đến Ushguli, ngôi làng cao nhất của Châu Âu. Những người lái xe tập trung chủ yếu ở ngay quảng trường giữa Mestia. Mỗi chuyến đi như vậy hẳn cũng chỉ vừa đủ trang trải cho cuộc mưu sinh nhọc nhằn nơi này. Ushguli cách Mestia khoảng 3-4 tiếng đi xe, đường đi khúc khuỷu và có đoạn xấu đến mức tôi nghĩ mình đã may mắn chọn được một bác lái xe cẩn thận. Ushguli nằm ở độ cao 2400 mét, dưới chân núi Shkhara, một trong những đỉnh cao nhất của dãy Caucasus. Cả làng chỉ có 70 hộ gia đình, nhân khẩu chưa đến 200 người. Tuyết phủ kín làng suốt sáu tháng một năm nên người ta cũng chỉ có thể đến được Ushguli từ tháng năm đến tháng mười. Sau thời gian đó, đường lên núi bị tuyết khóa kín, cả ngôi làng sống biệt lập hẳn với đời sống xung quanh. 

Ushguli giữ nguyên kiểu kiến trúc đặc trưng của người Svan với những ngôi nhà tháp rất cổ. Thậm chí trên một đỉnh đồi, người ta còn thấy cả một nhà nguyện xây từ thế kỷ thứ XII. Tuyết, khí hậu khắc nghiệt, sự nghèo khổ và những quãng thời gian cách biệt với đời sống bên ngoài đã nhuộm cho những ngôi nhà và những tòa tháp đá ở đây một sắc đen hiu quạnh khó tả. Những ngọn núi xung quanh đẹp hơn cả bao nhiêu bức ảnh tôi từng thấy. Thông thường, khi đứng trước núi cao, cảnh thiên nhiên hùng vĩ, người ta thấy bé nhỏ, nhưng núi non ở nơi này không tạo cảm giác rợn ngợp đến vậy. Không rõ vì sao, tôi cảm thấy núi non của Georgia hùng vĩ nhưng nữ tính, thân thiện. Tôi nghĩ mình chắc mình cũng chẳng lớn lao hơn một chú bò đang gặm cỏ thảnh thơi trên triền núi xa xa. Bé như một dấu chấm đen trên nền cỏ đang úa của mùa thu. Vậy mà cái dấu chấm ấy khi đứng ở trên một đỉnh đồi, với ba mặt núi xung quanh, chỉ một cách xoay người lại thấy một cảnh sắc khác, nơi thì vách đá tuyết phủ, nơi thì trảng cỏ nhuốm vàng, nơi thì lá xanh đang chuyển màu, lại thấy mình như được thiên nhiên an ủi vỗ về.

Pic by Maki



Khi xe dừng lại, tôi để ý thấy có hai cụm nhà ở, một trong hai nơi hoang phế, chỉ còn lèo tèo vài gia đình. Người lái xe nói năm trước một trận bão tuyết lớn đổ xuống làm sạt lở nhiều nhà nên dân cư dồn hết vào phía bên kia của làng. Phần còn lại của Ushguli là những ngõ nhỏ quanh co, những vũng nước còn sót lại của cơn mưa tháng mười, những bầy heo hồng hồng mắt trong veo nằm lăn lộn sung sướng trong vũng bùn, những con ngựa gục gặc đầu bước chầm chầm lên những con dốc, những đứa trẻ bẽn lẽn cười khi nhìn thấy người lạ, người thiếu phụ miền núi cán bột làm bánh khachapuri, lông mày đậm, gò má ửng đỏ, nhìn như một bức tranh.









Và chén rượu của người Georgia

Ở ngay trung tâm thủ đô Tbilisi có một bức tượng tên là Kartvlis Deda (nghĩa là Người mẹ Georgia) nằm trên ngọn đồi Sololaki. Một tay bà cầm chén rượu nho tượng trưng cho lòng hiếu khách, tay kia cầm thanh kiếm tượng trưng cho sự quả cảm chống lại quân thù. Vào những buổi chiều tà, dù đứng dưới đường phố nhìn lên hay đứng ngay trên Sololaki nhìn sang, tôi đều mơ hồ cảm thấy bóng của bà đẫm trong một nỗi hiu quạnh kiêu hùng. Những ngày đầu tiên, khi tôi đến Tbilisi, thứ cảm giác đó chỉ đôi lúc mới lẩn khuất xuất hiện vì xung quanh tôi vẫn còn bao nhiêu thứ thân thiện và dễ chịu với du khách: nhà nghỉ, khách sạn với các tiện ích được Âu hóa, tàu metro, thức ăn fastfood, nhân viên khách sạn và những người bán hàng giao tiếp bằng tiếng Anh… Thế nhưng rồi khi rời khỏi Tbilisi, tôi mới hiểu rõ hơn thế nào là chén rượu của người Georgia.



Georgia nằm ngay cạnh Thổ Nhĩ Kỳ, nhưng sự hiếu khách của người Georgia rất khác với sự hồ hởi, nồng nhiệt của những người Thổ. Giống như núi non im lặng của mình, sự hiếu khách của người Georgia len lỏi âm thầm hơn qua những điều nho nhỏ. Nó nằm trong chùm nho của người phụ nữ xa lạ đi cùng chuyến xe khách với tôi. Cô không biết tiếng Anh cũng chẳng hiểu tôi nói gì ríu ran, cô nhìn tôi mỉm cười, mở túi tặng tôi một chùm nho ngọt lịm. Thấy tôi ăn hết, cô lại bẽn lẽn mở túi, tặng thêm chùm nữa trước khi xuống xe. Vị ngọt trong chén rượu của người Georgia hẳn cũng đã chảy đẫm trong tâm hồn của người lái xe đưa tôi đi Vardzia hôm đó. Giữa đường, ông bỗng quay hướng chiếc Volvo cà tàng của mình, chạy thêm một quãng rất dài chỉ để đưa chúng tôi đến xem một suối nước khoáng vì ông nghĩ nó cũng là một điều thú vị mà ít ai biết.






Tôi còn được nếm cả vị ngọt ấy trong một buổi sớm mai thức dậy trong một ngôi nhà trọ vùng Rioni. Nắng sớm chiếu xiên qua những tán cây, hắt xuống dây quần áo vừa giặt giũ xong, mùi rượu táo mới nấu thoảng lên trong gió nhẹ, ngoài vườn hoa vừa nở và những con gà lục tục kiếm ăn nơi bãi cỏ. Cảm giác thanh bình ở một góc nhỏ bé trên cõi đời này hẳn là chén rượu đẹp nhất mà Georgia dành tặng cho tôi.

Q.

p/s: bonus phần không có trong tạp chí: ảnh đứa đi rong viết bài. Đi một mình, tự chụp hình rất khổ, hiu hiu.





Read More