Rất khó để đoán được tuổi của cô ấy. Gương mặt đó có những nét vừa già vừa trẻ. Già như một bà già đã sáu mươi và trẻ như đứa trẻ mới lên tám.
Phong thái cô ấy nhanh nhẹn, vóc người thanh mảnh, nụ cười trong trẻo như còn sót lại từ tuổi thơ.
Ngày thứ hai của khóa Tiếp hiện, thiền sinh vẫn lục tục đến từ khắp nơi nên buổi trưa chúng tôi được ăn trưa tự do.
Cô Hòa Hợp mời cô ấy cùng ăn trưa với chúng tôi. Bọn tôi ngồi ở chòi gỗ nhỏ, trông ra hồ sen.
Ăn xong, chúng tôi rì rầm trò chuyện. Tiếng Việt của cô ngập ngừng, như đứa trẻ cố tìm cách lôi ra những từ vựng cần thiết trong đầu.
Nhiều năm tháng trước, trướ khi đặt chân đến Thụy Sỹ, cô ấy là một thuyền nhân. Khi nghe thấy cụm từ này, đầu óc tôi nhớ đến hai vị tu sĩ tự sát trên con tàu ở Nha Trang, nhớ đến cướp biển và đứa trẻ bị vứt xuống biển khơi, nhớ đến bài thơ của Thầy,...
Lúc đó cô ấy chỉ mới mười hai hay mười bốn chi đó. Tàu lênh đênh trên biển nhiều ngày trời. Cướp hoành hành ngang dọc. Con tàu bị cướp bóc đến ba lần. Lần thứ nhất, người ta mất toàn bộ đồ đạc. Lần thứ hai, mất hết máy móc để tàu chạy, đến cái la bàn cũng không còn. Sóng vùi dập không biết trôi về đâu. Nước cạn, lương thực cạn, xăng dầu cạn...
Toán cướp biển thứ ba ập đến. Những con người nhàu nát và ngơ ngác bị lùa sang một con tàu khác để bọn cướp có thể lục soát. Cả tàu trống trơn, vô hồn như cái xác dật dờ. Rồi bọn cướp không mót được bất kỳ thứ gì. Chúng lại lùa người về.
Trên tàu có một nồi cơm mới nấu. Một nồi cơm to. Bọn cướp đã nấu nồi cơm đó, sau khi tìm khắp nơi không thấy còn lại một mẩu vụn lương thực nào. Và chúng rẽ sóng, đi mất, để lại những con người vẫn còn bàng hoàng trước nồi cơm nghi ngút khói.
Tôi nghĩ trong vắt cơm năm đó hẳn trộn nước mắt của rất nhiều người.
Chừng vài ngày sau con tàu dạt vào một hòn đảo của Mã Lai. Rồi một con tàu của Thụy Sỹ chấp nhận mang họ về châu Âu. Trong số những thuyền nhân đó, có một cô bé giữ đươc mãi nụ cười của trẻ thơ, vì vắt cơm năm nào có một giọt từ bi của những bồ tát hiện ra dưới thân cướp biển.






