Lúc đó là buổi chiều tối. Mặt trời dần xuống, chỉ còn hắt nắng, hun lên ánh đỏ xiên qua những ô cửa. Hơi lạnh đã tỏa ra nhè nhẹ. Mùa này người ta chưa bật lò sưởi. Bạn đồng hành đã thiếp ngủ sau chuyến bay dài hơn một ngày. Tôi ngồi một mình ở chiếc ghế tựa ngoài hành lang. Khách sạn vắng tanh, không có một khách nào. Hành lang gỗ, tường trắng, cửa sổ, làm tôi nhớ đến bệnh viện. Và những chậu cây làm tôi nhớ về một cây chanh còi cọc ở xa. Sự lặng lẽ của buổi chiều, trí tưởng tượng cùng hồi ức cũ làm tôi ứa một giọt nước mắt.
Tuesday, 20 October 2015
Tuesday, 13 October 2015
Happy continuation
Mình đang ở trong những ngày cuối cùng của những năm hai mươi. Một vài ngày nữa thôi.
Thanh xuân trong tất cả hơn mười lăm năm nhìn lại là một ngụm nước mát. Đôi mắt mình được nhìn thấy rất nhiều điều đẹp đẽ trên đời, trong sách và trong những con người. Đôi khi những điều quá đẹp làm mình ứa nước mắt. Cuộc đời hẳn là một điều rất mầu nhiệm.
Thầy và tăng thân đều không gọi đây là ngày sinh nhật, mà gọi là ngày tiếp nối. Là ngày mình biết sự sống của mình được tiếp nối, với tổ tiên, gia đình, với thầy, với những con người, cảnh vật, đất đai, với những điều đẹp đẽ còn nhiều khôn xiết trên đời, để biết rằng mình không cô độc trên cuộc đời này, cuộc hành trình này.
Nếu vì một lý do nào đó, mình không thể gặp nhau trực tiếp để cùng mừng ngày tiếp nối này, hãy gửi cho mình một bức ảnh về bất kỳ một điều chi đẹp đẽ mà các anh/chị/bạn/em nhìn thấy trong ngày 17/10 ấy. Những bức ảnh có thể gửi vào email cho mình hoặc upload vào link google drive này.
Cảm ơn mọi người cho mình nhìn thấy những điều đẹp đẽ trên cuộc đời này qua đôi mắt của mọi người.
Posted by : Man vu
Monday, 12 October 2015
Bruges la morte
Bruges, thành phố Tây Nam Bỉ, Venice của phương Bắc, là nơi diễn ra câu chuyện này.
Một thuở nào đó, Bruges nằm ngay sát mặt biển,nhưng rồi biển rút đi để lại một thành phố cô đơn. Truyện mở đầu như vậy, dưới cái nhìn hoàn toàn chủ quan của nhân vật chính Hugues Viane. Anh ba mươi tuổi, góa vợ đã năm năm, chuyển đến sống ở Bruges cũng đã tròn năm năm. Mỗi tối, anh âm thầm đi dạo lặng lẽ trên những con đường của Bruges. Ngay từng chương mở đầu, tôi có cảm giác như Bruges hiện ra như một bức ảnh mà theo từng bước chân, từng lời miêu tả của Hugues, nó bạc màu đi từng chút một, bụi phủ lên từng chút một và cuối cùng hoàn toàn chết lặng, không một bóng người. Tất cả chỉ là một ấn tượng buồn và xám, hệt như Hugues đã nhận xét, về Bruges, về chính anh.
Đôi mắt của một người thống khổ vì nỗi đau. Bruges là quan tài thủy tinh phong bọc thi thể người vợ quá cố, để mỗi nơi Hugues đều nhìn thấy hình ảnh của nàng, mỗi chi tiết đường nét đều làm anh liên tưởng đến cảm giác đau lòng nơi mình. Hugues cảm thấy yên ủi bởi anh có Bruges. Biển bỏ Bruges cũng như nàng đã bỏ anh. Khi người ta đau, người ta sung sướng khi biết bên cạnh có kẻ cùng cảnh ngộ.
Nhưng Rodenbach không viết câu truyện này để kể về một cảm xúc bình lặng như thế.
Một ngày kia, ngay trên thi thể chết chóc của Bruges, Huges nhìn thấy một người phụ nữ. Số phận trêu ngươi anh. Người đàn bà này từng nhịp thở, từng thói quen hất tóc đến nhịp bước chân đi đều hệt như người vợ quá cố. Anh điên dại đi theo nàng, bắt chuyện làm quen, tán tỉnh nàng. Nàng là Jane, một nữ diễn viên sân khấu. Hugues hạnh phúc, hân hoan, anh đã tìm lại được tình yêu, anh đã sống lại. Bruges và anh nay đã là hai thực thể tách rời.
Nhưng vẫn lại là Rodenbach không muốn viết một câu chuyện hạnh phúc…
Tôi thích một đoạn văn, trong đó, Hugues bộ lộ suy tư của mình về cái cũ và cái mới. Anh không vì Jane - người mới mà quên được vợ anh – nỗi đau cũ. Con người ta mâu thuẫn bởi vừa muốn đau đáu những niềm xưa cũ lại vừa không thể khước từ những điều mới. Bằng cách cố gắng tìm nơi Jane tất cả các đặc điểm của người xưa, Hugues cảm thấy đó chính là phương thức để cả cũ và mới hoà trộn không chút mâu thuẫn. Một ngày nọ, Hugues đem chiếc váy của người vợ cũ đến cho Jane và yêu cầu nàng mặc nó. Hugues muốn nhìn thấy một sự toàn vẹn của ký ức. Và kể từ giây phút Jane mặc chiếc váy đó, bước lên bàn và nhảy múa như Salome, truyện đã rẽ sang một hướng khác…
Ngay lời giới thiệu truyện Rodenbach đã viết rằng nhân vật quan trọng nhất của quyển sách này không phải là Hugues, Jane hay thậm chí người vợ quá cố mà là Bruges, thành phố chết. Bruges, như cảm nhận của tôi là hiện thân của một người phụ nữ, bởi như đã có một lần, Rodenbach viết : những thành phố cũng như những người phụ nữ, có thời khắc huy hoàng và có thời khắc tàn tạ. Hugues xoay vòng cảm xúc của mình xung quanh những người phụ nữ của đời anh. Tất cả đều muốn nắm lấy vận mệnh anh, ngay cả Bruges.
Tôi sẽ không kể điều gì đã xảy ra cho Jane, cho Hugues, cho Bruges… Một buổi tối nào đó, hãy hạ thấp ánh đèn, ngồi yên lặng và chìm vào không khí của Bruges để nhìn bằng cái nhìn của Hugues.
Bruges, trong thực tế,khi tôi xem những thước phim tư liệu về nó, không hề xám và buồn như lời văn của Rodenbach. Nó êm ái, hiền hòa với những con kênh nhỏ và những nếp nhà giản dị. Chỉ có điều không rõ vì sao, khi đoạn phim quay đến ngôi nhà thờ, tôi ngỡ như mình nghe thấy tiếng chuông đổ vọng lại từ trang sách cuối cùng, khi Hugues cúi xuống, chìm vào bóng tối.
Posted by : Man vu
Friday, 9 October 2015
Ghi chép vụn vặt giữa những chặng dừng chân
1. Người Colchis giàu có, họ sở hữu những mỏ vàng khổng lồ của vùng Caucasus. Toàn bộ những cổ vật mà sau này người ta đào được đều là đồ tùy táng bằng vàng, những thứ vòng xoắn trôn ốc, cúc áo, huy hiệu, hoa tai, băng cài đầu. Mức độ tinh xảo đến khó tin, nhất là vào thế kỷ 3-4 trước Công nguyên.
Trong một bộ tùy táng, người ta tìm thấy những miếng vàng dát mỏng, gọi là miếng che miệng cho người chết. Không rõ vì sao. Người Hy lạp có thói quen đặt một đồng tiền vào miệng người chết, gọi là phí qua đò cho lão chèo đò sông Charon. Còn người Colchis vì sao dùng miếng che miệng? Phải chăng vì họ sợ linh hồn trôi ra từ miệng? Hay họ muốn yên tâm rằng mọi lời nói, mọi ngôn từ đều sẽ câm lặng vĩnh viễn từ nay?
Cũng trong một bộ tùy táng của một người phụ nữ, người ta tìm thấy một ít vòng tay rất bé, chúng là những món đồ mà người đã khuất từng dùng lúc còn nhỏ. Họ chôn theo ấu thơ của mình. Hẳn ấu thơ ấy phải ngọt ngào đến mức khi đã lớn, đã già đi, đã chết, người ta vẫn không nỡ quên được. Lần đầu tiên trong đời, tôi thực sự tò mò đến độ muốn tọc mạch nhìn thử, nếm thử xem ấu thơ của người khác ngọt đến độ nào... Hay là một sự day dứt không quên?
2. Bảo tàng Moma Tbilisi có phần trưng bày về các tác phẩm của Zurab Tsereteli. Lúc còn sống, hẳn ông là một tay lừng lẫy, bá vai bá cổ với bao nhiêu chính khách. Tôi không biết ông là ai. Những màu sắc của ông bừng bừng như muốn nhảy ra khỏi tranh. Khi đi một vòng, tôi phát hiện ra một điều. Thật ra tôi thích những mối quan hệ giống như đi ngắm tranh. Không thể đến quá gần. Càng đến gần càng chả thấy gì ngoài những nhát cọ và những vệt màu loang. Không có ý nghĩa gì cả. Lại càng không thể đưa vào máy soi để thấy dưới lớp toan này, lớp màu này là chồng chéo bao nhiêu lớp màu, bao nhiêu phác thảo. Người ta không yêu một bức tranh vì những điều đó. Phải đứng xa, nhiều khi là rất xa, mới có thể thấy được hóa ra cái vệt màu nhòe nhoẹt vô nghĩa lý kia là một vệt nắng, một đóa hoa hay một bóng cây đang nghiêng nghiêng. Đừng đến gần đời nhau quá, đừng phân tích, phán xét và mổ xẻ nhau. Mọi thứ đẹp khi có khoảng cách. Tôi dễ bất an và có xu hướng bỏ chạy mỗi khi thấy có ai đến quá gần.
3. Một trong những phần tôi yêu thích nhất ở các chuyến đi xa đó là những người tôi gặp trong hành trình của mình. Một vài cuộc trò chuyện dưới hiên nhà, trên chuyến bus, ở đâu đó trong tiệm cafe. Họ vô hại. Họ thú vị. Họ không can dự vào đời tôi. Không trách nhiệm, không mắc mỏ neo vào đời nhau. Không cảm thấy tổn thương hay mếch lòng vì bất kỳ hành động nào. Dễ quên nếu buồn bực, dễ cho qua nếu gặp hành động vô ý. Lại dễ thấy vui vì những điều chia sẻ thú vị. Không ai dốc nỗi buồn ra với người lạ trong cuộc trò chuyện vài mươi phút. Vừa đủ biết nhau gói gọn vừa phải như chút gia vị làm cho đời sống thêm mặn mòi. Rồi đi.
Posted by : Man vu
Wednesday, 7 October 2015
Saturday, 3 October 2015
Còn nguyên sơ mộng sau tà áo xanh
Tấm ảnh này tôi chụp hai người bạn vào một buổi đi dạo ở Basel chừng 6 mùa xuân trước. Nó là một tấm ảnh lấy nét không hoàn hảo và một số chỗ cháy sáng. Thế nhưng, lần nào nhìn ngắm lại, cũng có cảm giác rất rõ rệt về một thứ gọi là "thanh xuân". Bất giác nhớ đến câu:
Em níu lấy cành dâu
Che giấu mộng ban đầu.
Chúng ta rồi đều không còn có thể ngủ trên chiếc giường giá 6 euro một đêm, đi chợ chỉ mua toàn bắp cải và trứng, nhảy tàu chuyến cuối và đứng suốt 4 tiếng đồng hồ, lọng ngọng nói những câu tiếng Pháp không đầu đuôi, cũng chẳng thể bỏ cả bữa sáng lẫn bữa trưa để nằm trên bãi cỏ, ngắm dòng sông trôi. Chúng ta ai cũng đều lớn lên, già đi, trở nên cáu bẳn vì công việc nhọc nhằn, chuyện tiền mua nhà, chuyện cho con cái đi học, tranh cãi với người thân, bạn bè, đứt nối với những mối dây liên lạc cũ. Có điều thanh xuân là một thứ men say. Càng để lâu, nhấp lại càng thấy ngất ngây hơn năm xưa.
Vì thế một sáng nào đó trong đời, hãy tạm quên hết mưu sinh cùng tới lui nhọc nhằn, tìm một bờ cỏ, một dòng sông, nằm xuống tưởng niệm thanh xuân.
Posted by : Man vu
Thursday, 1 October 2015
Istanbul của những con mọt sách
(trích từ topic đang viết bên phuot.vn "Thổ Nhĩ Kỳ - Em uống một ly trà táo nhé")
Chúng tôi ghé vào một tiệm sách tên là Galeri Kayseri nằm ngay gần bến tram Sultanahmet để tìm bản đồ. Thay vì thế, chúng tôi lại tìm được cuộc trò chuyện thú vị với một người bán sách đeo kính râm, ngồi sưởi nắng ngay trên con đường chính của khu Sultanahmet.
Trước chuyến đi chừng 1-2 tháng, trên NY Times tôi đọc được một bài viết về cuộc du hành cùng Orhan Pamuk và ấn tượng của ông ấy với Istanbul.
Orhan Pamuk không dễ đọc, tôi chả bao giờ đọc xong quyển Tên tôi là đỏ, quyển Pháo đài trắng càng không. Cuốn Istanbul thì dễ chịu hơn. Tạng kể chuyện của ông ấy không hợp với tôi. Nhưng bài báo trên NY Times có một giọng văn và không khí như mờ mờ ảo ảo, bàng bạc kiểu một chiều trên Bophorus, đại loại là một kiểu giọng văn dễ nhuốm người đọc chìm vào bầu không khí mơ màng tưởng tượng. Quan trọng nhất là ở cuối bài báo, tôi thấy họ ghi chú về Bảo tàng của sự thơ ngây. Người đọc sách có nhiều loại. Người du hành cũng có nhiều loại. Người thích đọc sách và thích du hành kiểu như tôi thì lại thích những ý tưởng có vẻ fantasy. Mỗi khi đi đâu đó xa nhà mà thấy một tiệm sách thì tôi cứ hay có cảm giác như là về lại được nơi thân quen.
Nói thêm một chút về những quyển sách có thể đọc trước khi đi Thổ, hoặc mang theo khi đi Thổ, tôi nghĩ cuốn Istanbul của Pamuk thật ra không phải là ý tệ. Tôi lượm lặt được từ đó một ít kiến thức về lịch sử, về cảnh sắc, về xung đột văn hóa của người Hy lạp và người Hồi giáo (mà khi đến ngắn sự đan xen kiến trúc của vùng Cappadocia thì sẽ hiểu), về những con chó hoang trong thành phố bị đưa ra đảo vắng.... Ngoài ra, trong một buổi sáng nọ, thức dậy ở Ugrup và khám phá những quyển sách trên kệ của khách sạn (bạn biết đó, đó là nơi chốn mà lắm khi bạn tìm thấy những điều rất bất ngờ), tôi gặp quyển Bright Sun, Strong Tea của Tom Brosnahan. Đây là một quyển sách khá duyên của một người thật sự "nghiện" đất Thổ. Những trải nghiệm và lối dẫn dắt của tác giả đem lại cảm giác giống như có ai đó rủ rỉ kể mình nghe về chỗ này chỗ kia trên những cung đường.
Nói chung những quyển sách kiểu như là viên gạch lót đường cho khách du lịch. Chúng tạo ra một thứ "văn cảnh", làm cho khung cảnh và người du hành có chuyện này chuyện kia mà ồ à tỉ tê với nhau.
Thế là tôi cầm lấy cuốn Chân dung một gia đình Thổ. Chúng tôi trò chuyện một lúc, bác chỉ đường cho chúng tôi đi đến nơi này, nơi kia. Ngày hôm sau, chúng tôi lần mò tìm đường đi đến những địa điểm tham quan ở Sultanahmet. Vì cửa hàng của bác nằm ngay trên trục đường chính, mà lúc đi ngang, bọn tôi thấy bác đang ngồi sưởi nắng cùng con mèo già, nên bọn tôi ghé vào chào bác. Bác nheo nheo mắt cười, hỏi bọn tôi tính ăn trưa ở đâu. Bọn tôi bảo, chắc đâu đó trong khu Sultanahmet này thôi. Bác hỏi thế mấy hôm nay ăn thế nào, có thấy ngon miệng không? Bọn tôi thật thà bảo, ăn thua hên xui, có bữa cũng tạm, có bữa cũng hơi dở. Bác cười ngất và bảo để bác chỉ cho một nơi giá cả cũng tương đương mà đồ ăn thì ngon hơn nhiều. Đây là nơi dân local hay đến ăn. Nó không nằm ngay mặt đường nên ít du khách biết.
Địa chỉ của tiệm sách Galeri Kayseri cho những ai muốn ghé thăm bác Ali và trò chuyện một chút về những quyển sách (hoặc về... Nar Lokanta)
Divanyolu Caddesi 11
Sultanahmet 34122, Istanbul
Posted by : Man vu

